The land of people who are forgotten- Chương 1: Chào mừng đến với: Vùng đất của những con người bị lãng quên

0

Giới thiệu: Câu chuyện lấy bối cảnh thời kì hậu tận thế.

Klaus Steiner trở về quê hương sau 7 năm tham gia chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Như bao người lính khác, Klaus rơi vào trạng thái bỡ ngỡ, xa lạ đối với mọi thứ xung quanh, kể cả những thứ thân thuộc nhất,  vì sự thay đổi của chúng trong 7 năm dài đằng đẵng. Như một lẽ đương nhiên, cậu bắt đầu cảm thấy trống rỗng.

Một năm sau, Klaus nhận một công việc ở thị trấn Vergessenheit- nơi tận cùng Trái Đất. Ở nơi đây, cậu gặp gỡ những con người mới và những câu chuyện khác nhau gắn liền với cuộc đời của mỗi người. Những câu chuyện ấy đều chứa đựng những bí mật thầm kín, nỗi tiếc nuối khôn nguôi,… của mỗi người.

Cuộc đời của Klaus cũng bắt đầu thay đổi theo những tháng ngày sống ở đây.

Xin nói trước để mọi người không cảm thấy thất vọng. Đây không phải là câu chuyện về một vị anh hùng cứu nhân độ thế, một vị thủ lĩnh xuất sắc dẫn dắt mọi người… Đây chỉ là câu chuyện về một con người tầm thường mà bạn có thể tìm thấy ở bất kì đâu, bất kì nơi nào. Câu chuyện của một con người đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: ” Tại sao mình lại có mặt ở thế giới này?”

 

Chương 1:

Chào mừng đến với: Vùng đất của những con người bị lãng quên

Thời gian còn lại: 468 ngày

1

Gió di chuyển dọc theo hẻm núi, rít lên từng hồi dài, mạnh mẽ như muốn xé tan bầu không khí. Mặt trời trên đỉnh đầu cứ trút lên mặt đất những dòng nắng dữ dội, khiến cho mặt đất hôm nay nóng hơn hẳn mọi ngày. Dù đang đi trong khe núi mà vẫn không thấy tối tăm cũng là do mặt trời đang chiếu thẳng từ đỉnh đầu. Tôi nhìn dọc lên trên vách đá. Điểm xuyết trên đó là lác đác những ngọn cây nhỏ trơ trọi một mình mọc từ các vết nứt của vách đá. Do chiếc xe tải chở chúng tôi không có kính nên có thể thấy rất rõ những cảnh vật ở bên ngoài, nhưng đổi lại là những cơn gió ngược chiều cứ phần phật đập vào mặt. Hai bên khoé mắt tôi đã ướt sũng từ trước khi tiến vào khe núi này do bụi làm cay. Cũng may mắn một điều là người cầm lái lúc này không phải là tôi, chứ nếu không nãy giờ tôi đã đâm sầm vào một chỗ nào đó và gặp tai nạn cũng nên. Trên mặt đường đầy những hòn đá nhỏ rơi từ vách núi khiến cho xe cứ rung lắc từ nãy giờ. Con đường dẫn đến một thị trấn khó khăn đến thế là cùng.

Dù lúc này đã ra khỏi hẻm núi nhưng đường vẫn không bớt làm cho xe rung lắc. Mặt đường vẫn gồ ghề, đây đó lồi lên những ụ đất thấp khiến cho xe di chuyển khó khăn. Cảnh vật hai bên đường cứ nối đuôi nhau chạy thẳng vào mắt tôi, như một cuốn phim đang tua ngược lại. Gác tay trái lên thành cửa xe, tôi lơ đãng phóng tầm mắt về cảnh vật phía xa. Đằng xa chân trời liên tiếp những ngọn núi với độ cao ngang bằng  nằm san sát nhau , nối đuôi nhau tạo thành một dãy núi như một con rắn đá khổng lồ. Đỉnh của những ngọn núi ấy đã bị che khuất hoàn toàn bởi những đám mây trắng lạc lõng từ nơi nào đó trôi đến. Bỗng có một chấm cam từ đằng đó đập vào mắt tôi. Tôi nheo mắt lại để nhìn rõ hơn thứ đó là gì. Thì ra đó là màu ngói của  một ngôi nhà nằm lưng chừng trên vách núi. Xung quanh ngôi nhà chỉ độc toàn cây,  không có bóng dáng của bất cứ một căn nhà nào khác. Tại sao ngôi nhà lại nằm đơn độc một mình trên đó ? Tôi chuyển tầm mắt mình về gần hơn, cụ thể là chú ý tới ven đường. Toàn bộ hai bên đường của tôi lúc này đây độc nhất một màu xanh lá mạ của cỏ non. Gió thổi làm cho hàng cỏ non ấy cứ nghiêng mình về phía trước. Nhìn cảnh vật ở xa bên trái và hai bên đường chán rồi, tôi tiếp tục đưa mắt hướng về phía xa bên phải. Toạ lạc ở phía đường chân trời bên này không còn là dãy núi đá nữa mà lại là một khu rừng cây tùng chạy dọc từ dãy núi có cái hẻm chũng tôi vừa vượt qua ban nãy. Dãy núi ấy tên là Uelyssus, chiều dài của nó là thứ khiến người khác kinh ngạc. Nó đi qua tới tận sáu quốc gia của lục địa này, bao gồm cả đất nước của chúng tôi. Điểm cuối của dãy núi ấy chính là chỗ giao với dãy núi đá giống hình một con rắn tôi đã đề cập ban nãy. Chính vì cái vị thế ấy đã làm cho nó trở thành một pháo đài tự nhiên vững chắc chống đỡ cho các cuộc tấn công của những con Beasts từ lục địa Non- human trong trường hợp chúng tràn qua bên đây.

“ Thưa ngài trung uý, tôi nghe nói ngài là một người lính đã từng chiến đấu ở trên tiền tuyến. Tôi xin mạn phép hỏi ngài rằng ngài đã từng chiến đấu trên mặt trận nào vậy?”

Câu hỏi ấy xuất phát từ người đàn ông ngồi bên phải , là người đang lái xe từ nãy giờ, đồng thời cũng là một người lính như tôi. Đó là một người đàn ông với một tông giọng khàn, thấp. Mái tóc nâu xơ cứng, rối bời như đã lâu chưa chải trên đầu, một bộ râu quai nón cùng màu tóc chiếm trọn nửa dưới của khuôn mặt vuông vức. Hàng lông mày dày và rậm nằm trên đôi mắt nâu.  Anh ta đang mặc quân phục nhưng hiện đã bỏ áo khoác ngoài của mình ra, còn chiếc áo thun xám đen ngắn tay, để lộ ra bắp tay săn chắc và làn da ngăm đen ửng đỏ do nắng. Nhìn như thế nào thì cũng thấy anh ta lớn tuổi hơn tôi, có thể hơn từ mười đến mười lăm tuổi. Thái độ lịch sự lố lăng đến nực cười của anh ta đối với tôi đều bắt nguồn từ khoảng cách giữa cấp bậc trên phù hiệu mà chúng tôi đang đeo trên vai. Dựa vào phù hiệu, anh ta là người ở cấp bậc binh nhất, còn tôi thì đang là một trung uý nên chuyện xưng hô lịch sự là đương nhiên. Nhưng thú thật, mặc dù tôi đã mang cấp bậc này được bốn năm nhưng tôi vẫn không thể quen với việc được người cấp dưới đối xử một cách lịch sự. Nhiều người lấy đó làm điều hãnh diện, vì con người, xét theo bản chất, đều luôn muốn nhận được sự tôn trọng, kính nể từ người khác nhưng tôi tự cảm thấy một người như tôi không đáng nhận được điều đó. Sau một hồi suy nghĩ vẩn vơ, tôi mới nhớ tới câu hỏi của anh lính và trả lời:

“ À, tôi từng chiến đấu ở mặt trận phía Tây”.

Khuôn mặt anh ta lộ rõ vẻ ngạc nhiên:

“ Mặt trận phía Tây? Ý ngài là nơi chiến trường khốc liệt nhất khi cứ 1000 người đi thì chỉ có 10 người trở về à?

“Đại loại vây”. Tôi trả lời

“ Ngài quả là một con người phi thường đấy, ngài biết không? Trở về từ cái nơi địa ngục trần gian ấy”.

Tôi xua tay, lúng túng đáp:

“ Tôi đâu có giỏi đến cái mức đó, chắc chỉ tại do may mắn mà sống sót  trở về thôi”.

Thật ra thì lí do tôi có thể sống sót trở về từ nơi ấy không chỉ là do ăn may, còn có một lí do khác mà tôi không muốn kể ra. Cả câu chuyện đằng sau lí do ấy là một bí mật cũng như là nỗi nhục nhã lớn nhất của tôi . Nhưng tạm thời thì cứ để nó qua một bên vậy.

Anh lính cười một trận thật lớn rồi nói tiếp:

“ Nhưng dù sao thì ngài cũng tuyệt thật đấy. Chả bù cho một tên chết nhát như tôi cứ suốt ngày luẩn quẩn ở cái hậu phương này”.

“ Ha…ha..ha”. Tôi cười một cách miễn cưỡng thay cho câu trả lời.

Nói rồi, anh ta mở cái ngăn đựng đồ ở giữa buồng lái ra. Trong đó có một cái bật lửa, một hộp xì gà được mở nắp sẵn đã bị mất vài điếu và cả một tấm ảnh. Anh với tay lấy hộp xì gà và chìa ra trước mặt tôi:

“ Ngài muốn dùng một điếu không ạ?”

“ Xin lỗi, tôi không thích hút cho lắm”. Tôi lịch sự từ chối.

“ Vậy nếu có phiền ngài nếu tôi hút không?”

“ Không sao, anh cứ tự nhiên”.

Tôi không hút nhưng tôi vẫn không thấy phiền khi ngồi gần người đang hút. Bởi trong những cuộc họp bàn chiến lược trước đây với các chỉ huy, mùi và khói từ điếu xì gà đang cháy là một thứ cực kì quen thuộc vì hầu như ai nấy cũng hút. Nó không phải là một điều phiền hà gì cả vì nó cho thấy mọi người đang tập trung vào công việc trước mắt. Hút xì gà không xấu vì nó giúp cho người hút được thư giãn hơn đôi chút. Trên chiến trường, nó còn là “liều thuốc” quan trọng giúp cho người lính quên đi nỗi sợ về cái chết hoặc là có thứ để làm bên cạnh việc bắn giết lẫn nhau.

“ Vậy tôi có thể nhờ ngài châm điếu xì gà giùm tôi được không?” Anh lính nhờ vả với một thái độ thành khẩn.

“ Đương nhiên là được rồi.

Tôi trả lời rồi rút từ trong ngăn cái bật lửa. Anh cũng đặt cái hộp vào trong ngăn, rút từ hộp một điếu xì gà rồi để lên miệng. Anh nghiêng đầu về hướng tôi một chút để tôi có thể dễ dàng châm hơn. Xong rồi, tôi để cái bật lửa về vị trí cũ. Một tay cầm điếu xì gà, một tay vẫn cầm vô lăng, anh hút một ngụm thật lớn rồi phả ra. Làn khói trắng bay dọc lên phía trên trần rồi theo hướng cửa sổ bay ra ngoài. Cái tay cầm điếu xì gà nay đã di chuyển vào trong cái ngăn để lấy tấm hình. Anh chìa cho tôi xem tấm hình mới vừa lấy ra:

“ Ngài xem này, đây là gia đình của tôi đấy!”

Đó là tấm ảnh chụp gia đình của anh trên một tờ giấy lụa nền nâu. Bên góc phải của bức hình là người đàn ông ngồi trước tôi đây. Vẫn là nụ cười vô tư, phóng khoáng đó, anh đang mặc bộ quân phục màu xanh lá đậm của mình, hai tay đang vịn vào hai chân của đứa bé gái được anh cõng trên vai. Cô bé khoảng chừng bốn năm tuổi gì đó, mặc một bộ váy chấm bi, miệng cười tươi đến mức để lộ ra hàm răng chỉ mới mọc vài cái của mình. Còn bên góc trái chắc hẳn là vợ của anh, một người phụ nữ với mái tóc đen dài ngang lưng đang đặt hai tay lên cái bụng bầu của mình. Cô có một nụ cười thật là nhẹ nhàng, môi chỉ hơi vểnh lên hai bên một chút. Do bức hình được chụp trên tờ giấy lụa nền nâu nên tôi không thể nói rõ tóc của họ màu gì.

Mắt anh đảo liên hồi giữa tấm ảnh trên tay đang chìa ra cho tôi xem với đường đi phía trước. Anh tiếp tục nói:

“ Tấm ảnh này được chụp vào khoảng tháng trước .Mùa thu tới thì vợ tôi sẽ sinh. Tôi háo hức không biết lần này là một bé gái nữa hay trai đây”.

“ Gia đình anh thật hạnh phúc nhỉ!”

“ À vâng, cảm ơn ngài. Gia đình tôi là niềm hạnh phúc và tự hào nhất của tôi. Thế nên… Tôi sẽ bảo vệ nó bằng mọi giá”.

Khi nói câu này, khuôn mặt anh bỗng trở nên nghiêm nghị bất thường. Không đảo mắt nữa, đôi mắt anh lúc này bỗng đanh lại như sắt thép, nhìn thẳng về phía trước, như đang nhìn vào một thứ gì đó ở nơi xa xăm. Đôi mắt của những con người có lòng quyết tâm muốn bảo vệ một thứ gì đó quý giá đối với mình. Tôi đoán đây chắc hẳn là lí do khiến anh không muốn ra chiến trường. Tôi thật ra rất ghen tị với những con người ấy, những con người có ý chí, niềm tin bảo vệ để bảo vệ thứ quý giá đối với mình. Mặc dù cấp bậc của tôi cao hơn anh, nhưng xét về khoảng này thì tôi thấy mình thật thua anh.

Thật ra cơ duyên để cho hai chúng tôi ngồi cùng buồng lái như bây giờ cũng không có gì to tát lắm. Mọi chuyện bắt đầu từ sáng hôm nay.

 

xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx

 

Tôi đến đồn trú quân gần nhất với thị trấn nơi tôi sắp tới vào đêm hôm qua. Đó là một đêm khá lạnh gây ra bởi cơn mưa đầu mùa bất chợt, khiến cho người ta không chuẩn bị trước. Tôi cũng là một trong số những người không chuẩn bị đó. Tôi đi bộ từ ga xe lửa đến đồn trú. Khi chỉ còn cách điểm đến khoảng vài ba cây số thì trời đột ngột đổ mưa. Xung quanh trời tối tới mức tôi không thể nhìn rõ thấy một gốc cây nào để vào trú mưa. Vậy nên, tôi đành đánh liều, tiếp tục đi trong cái lạnh của những giọt mưa liên tiếp dội xuống đỉnh đầu. Đi được một lúc thì bỗng thấy mặt đường dưới chân tôi rung chuyển. Từ đằng xa vọng lại tiếng còi của những chiếc xe tải như tiếng gầm rú của những con quái vật, xé tan màn đêm vốn đang tĩnh mịch. Chắc hẳn đây là tiếng của đoàn xe vận chuyển hàng hoá. Vốn có thể đưa tay xin nhờ hoá giang nhưng tôi lại không làm. Bởi vì tính tôi nó thế, không thích nhờ người khác giúp ngay cả trong hoàn cảnh như vậy, chưa kể là xin sự giúp đỡ từ một người lạ hoắc. Do đó, một phần nhường chỗ cho đoàn xe sắp chạy qua,  tôi rời đường cái, đi vào đồng cỏ sát mép đường để còn có thể dựa vào đó mà định hình được phương hướng.

Mặt đất ngày càng rung chuyển dữ dội khi đoàn xe tới gần. Tôi cũng có thể nghe rõ tiếng động cơ của xe đang ngày càng lớn dần. Con đường cái lúc này như được thắp sáng từ đèn chiếu của những chiếc xe. Ánh sáng phản chiếu từ những vệt nước trên mặt đường càng làm cho mọi thứ xung quanh sáng hơn. Rồi thì chiếc xe đầu tiên đi qua tôi, đến chiếc thứ hai, thứ ba… Một cách rất nhanh chóng, những chiếc xe tải quân sự với tấm bạt phủ màu xanh lá lướt qua tôi. Dần dần, để tôi lại một mình cô độc giữa chốn cánh đồng bao la tăm tối này. Tôi tiếp tục cuộc hành trình. Bỗng từ đâu đó, tiếng động cơ xe vọng đến tai tôi. Lần này, tiếng động cơ không to như lúc trước, chỉ là tiếng một chiếc. Nó không xuất phát từ đoàn xe đã vượt qua tôi lúc nãy mà là từ đằng sau. Tôi quay đầu lại nhìn. Thì ra, một chiếc xe “lạc đàn” bị bỏ lại phía sau khá xa. Không hiểu sao lúc này, tôi có cảm giác như người đang lái chiếc xe đó và tôi giờ đây như hai kẻ lạc lõng ở một nơi vô định nào đó, bị bỏ lại đằng sau bởi chính đồng loại của mình (mặc dù tôi đã tự nguyện từ chối đưa tay xin giúp đỡ). Không cần mất nhiều thời gian, chiếc xe đã chạy đến được chỗ tôi và vượt qua trước. Nhưng không như những chiếc xe trước, điều làm tôi ngạc nhiên chính là chiếc xe bắt đầu giảm tốc độ và dừng hẳn trước mặt tôi vài bước. Bỗng cửa của phụ lái mở ra, đầu một người đàn ông thò ra và gọi với tới chỗ tôi đang đứng:

“ Này, có cần quá giang không? Trên xe còn một ghế chưa ai ngồi đây!”

Tôi sững sờ trong giây lát. Một người đàn ông tự nhiên đâu ra đề nghị giúp đỡ. Hẳn là ai trong trường hợp của tôi phải thấy có gì đó đáng nghi rồi. Trên đời này còn tồn tạo loại người sẵn sàng giúp một người lạ bên đường hay sao? Thấy tôi suy nghĩ lâu quá, người đàn ông gọi thêm một lần:

“ Nếu không muốn thì thôi nhé?

Tôi cuống quá nên không suy nghĩ nữa, vội trả lời:

“ À vâng, xin làm phiền anh.

Buồng lái tối om do đèn trong buồng đã bị hư. Tôi lúc này đây đang ướt như một con chuột lột, ngồi trên ghế bọc da màu đen, balo thì đang được tôi ôm đặt trên đùi. Kính xe đã bị vỡ hết nên dù có đang ngồi trong buồng lái thì vẫn thấy như đang đi ngoài mưa. Mọi thứ xung quanh đúng là tối thui từ trong đến lẫn ngoài xe, chỉ thấy khoảng vài mét phía trước đường do được chiếu sáng bởi cặp đèn pha của xe. Người lái xe mở lời, phá tan bầu không khí yên ắng đang bao trùm:

“ Cậu muốn tôi thả cậu ở đâu, chàng trai trẻ?”

“ À, tôi muốn đến đồn trú quân Sorgei cách đây khoảng vài cây số”.

“ Trùng hợp thật, đó cũng là nơi tôi đang đến đấy”.

Dựa vài những gì xảy ra từ nãy đến giờ, dù không mặc quân phục, tôi đoán anh là một người lính lái xe đang làm việc ở đồn trú. Tôi thắc mắc tại sao xe anh bị tuột lại phía sau nhiều đến thế? Rồi thì tôi cũng quên bẵng đi cái thắc mắc ấy.

Đoạn đối thoại vừa nãy cũng là đoạn duy nhất trong suốt chuyến đi. Khi đến được đồn trú, anh đưa tôi tới cửa rồi một mình phóng xe ra bãi. Để tôi lại một mình chưa kịp gửi lời cảm ơn.

Buổi sáng, tôi ăn sáng cùng vị chỉ huy của đồn trú này. Nói là vị chỉ huy thôi chứ xét về cấp bậc thì ông ta cũng ngang bằng tôi. Một người đàn ông với mái tóc đã bạc phết, cả hàng râu mọc xung quanh miệng của ông cũng vậy. Tướng tá to con, cao hơn tôi hẳn một cái đầu. Sau khi dùng bữa, ông mới đưa ra thắc mắc của mình:

“ Đồng chí tới đây có việc gì vậy?”

“ Tôi đã nhận một công việc ở thị trấn Vergessenheit gần đây. Chẳng qua là chuyến tàu của tôi đến trễ quá nên không tiện cho việc tới thẳng thị trấn. Nên tôi đã gọi điện cho ngài vào tối hôm qua để cho tôi xin trú nhờ một đêm. Lát nữa, tôi sẽ khởi hành đi ngay”.

“ Thị trấn Vergessenheit à?… Hôm nay là ngày may mắn của đồng chí đấy! Chẳng là có một chuyến hàng từ đây đến đó vào hôm nay. Cậu có thể đi nhờ đến đó đấy. Tôi sẽ cho người đi thông báo ngay đây”.

“ À không cần…”

Tôi chưa kịp nói hết câu thì ông ta đã gọi người trợ lí đang đứng ở ngoài cửa nãy giờ. Người trợ lí nhanh chóng bước vào và đứng kế ngài chỉ huy. Ông quắc quắc người trợ lí và thì thầm gì đó vào tai của cậu ta. Xong rồi, cũng nhanh như khi bước vào, cậu ra khỏi phòng.

“ Tôi đã nhờ người thông báo rồi. Chuyến hàng sẽ xuất phát lúc 10 giờ”.

Đến lúc này thì tôi không thể nào từ chối được nữa rồi:

“ Vậy thì tôi xin nhận lòng tốt của ngài”.

“ Không có gì đâu, giúp đỡ nhau là chuyện thường tình. Mà thị trấn Vergessenheit à… Tôi không ngờ là vẫn có người muốn đến đó đấy. Huống hồ gì là đến nhận việc như đồng chí. Nhưng không phải đồng chí là lính từ chiến trường miền Tây trở về à? Chưa kể còn có cấp bậc cũng cao. Thiếu gì việc cho cậu làm ở thủ đô và các thành phố lớn. Tại sao lại chọn một chốn hẻo lánh như Vergessenheit để làm việc?”

“ Tôi có lí do riêng để làm việc ở đấy. Xin thứ lỗi nhưng tôi không thể kể cho ngài được.

“ À không, tôi hiểu mà! Xin lỗi vì đã hỏi cậu mấy chuyện như thế. Mà cậu đã xin làm công việc gì ở đấy vậy?”

“ Tôi xin làm thủ thư của thư viện ở đấy”.

“ Thủ thư à…”

Ông lấy ngón tay xoa lên thái dương như đang cố nhớ một điều gì đó. Giữa lúc ấy, một viên trợ lí khác của ông xô cửa chạy vào, trông rất hấp tấp, thở không ra hơi, báo cáo với ông:

“ Thưa ngài, có một cuộc gọi khẩn từ trung ương. Xin ngài hãy đi nghe!”

Ông vội vàng đứng lên, lấy chân đẩy ghế ra sau và bắt đầu bước ra khỏi bàn ăn một cách vội vã. Khi đi ra đến cửa, ông mới nhớ tới tôi và quay lại nói một cách rất nhanh;

“ Xin lỗi đồng chí, tôi có việc khẩn phải đi trước. Hai tiếng nữa, xe mới khởi hành. Cậu hãy đi dạo trong thời gian đó đi”.

Nói rồi, ông đi khuất khỏi tầm mắt tôi để đến phòng liên lạc ở tháp trung tâm. Còn hai tiếng nữa à? Tôi đứng dậy, quyết định đi khám phá nơi này.

Hơn nửa tiếng trôi qua, tôi đã khám phá được gần hết cái pháo đài cổ được sử dụng làm đồn trú này. Ở trên đỉnh tháp canh, có thể toàn cảnh xung quanh và những nơi ở phía xa. Nhìn về phía Đông sẽ thấy ga xe lửa, nơi tôi đã đến vào ngày hôm qua; nhìn về phía Tây có thể thấy dãy núi Uelyssus hùng vĩ, và xa hơn là con sông Volrin. Phía bờ bên kia của con sông chính là lục địa Non-human, nơi vẫn chưa hằn dấu chân của con người hiện đại. Phía bờ bên này, thấp thoáng những mái ngói màu cam chính là đích đến cuộc hành trình của tôi: thị trấn Vergessenheit. Từ đây tôi có thể thấy những làn khói xám đang toả ra nghi ngút từ ống khói của các ngôi nhà. Không biết họ đang làm gì lúc này? Đang chuẩn bị bữa, làm bánh… hay đang rèn vũ khí để chuẩn bị chống lại nhũng con Beasts vẫn không ngừng là cơn ác mộng của họ trong những đêm dài? Dù là cái gì đi nữa thì lúc này tôi không thể biết.

Sân sau của đồn trú- điểm đến cuối cùng trong “ chuyến thám hiểm nho nhỏ của tôi”- là nơi hiện tôi đang đứng. Nó còn được dùng làm bãi đỗ xe tải. Trước mặt tôi hiện giờ là ba hàng xe tải được đỗ theo hàng dọc, mỗi hàng có khoảng năm chiếc. Mùi dầu nhớt của xe cứ phảng phất trong không khí cộng thêm các luồng gió thổi khiến mùi của nó rõ hơn. Tôi nghe có tiếng người đang chất hàng hoá lên xe từ phía xa. Đi tìm nơi phát ra tiếng động, tôi phát hiện thấy một điều khá bất ngờ. Người đúng trước mặt tôi đang chất hàng hoá lên xe chính là người tài xế tốt bụng đã giúp tôi hôm qua. Người đánh trần, chiếc khăn bông vắt ngang qua cổ, mồ hôi nhễ nhại như một người vừa mới đi tắm ra. Tay thoăn thoắt di chuyển những thùng hàng từ phía sau lên thùng xe rồi đẩy chúng vào bên trong. Anh cứ làm đi làm lại cái động tác ấy. Có vẻ anh đang quá chú tâm vào công việc mà không để ý thấy sự hiện diện của tôi. Tôi đành bước lại gần hơn. Lúc này đã để ý tới sự có mặt của tôi, anh dừng công việc và ngẩng đầu lên, đưa tay chào tôi:

“ Xin chào ngài trung uý! Việc gì đã đưa ngài đến bãi đỗ xe tồi tàn này vậy?”

Có vẻ anh ta không nhận ra tôi là người đã được anh giúp đỡ vào ngày hôm qua. Cũng đúng thôi, trời đêm qua tối, đèn xe trong buồng thì bị hỏng, anh ta lo nhìn đường mà chạy chứ có hơi đâu mà quay qua nhìn kĩ khuôn mặt tôi. Với lại đêm qua tôi cũng không mặc quân phục của mình, có thể anh đã nghĩ tôi chỉ là một thường dân đang đi tìm đồn trú. Cộng thêm cái tư tưởng: cấp cao thì phải ngồi xe sang mà đi chứ không phải cuốc bộ như tôi thì càng chứng minh cho việc anh không nhận ra tôi. Nếu anh đã không nhớ thì tôi cũng không nên nhắc lại làm gì cho phiền. Nhưng tôi muốn trả ơn anh nên tôi đã đề nghị:

“ Anh có thể cho tôi làm giúp anh được không?”

Anh ra chiều bối rối, từ chối:

“ Ngài không phù hợp với công việc này đâu! Đây là việc của tôi mà. À ý tôi không phải nói ngài không có sức làm việc này đâu. Ấy nhầm, tôi không biết phải nói sao nữa… Nhưng nói chung là ngài không nên làm”.

Anh ta lúng túng, gãi đầu để cố tìm cho được từ ngữ phù hợp để nói. Nhìn trông buồn cười phết! Để thay cho lời từ chối, tôi bỏ áo khoác ngoài ra, đặt xuống đất rồi bắt đầu bước tới chỗ mấy cái thùng hàng.

“ Tôi nghĩ ngài không nên làm thì hơn”. Anh ta nói với giọng buồn rầu. “ Nếu chỉ huy mà biết thì ngài ấy sẽ phạt tôi mất”.

“ Tôi chỉ muốn vận động cơ thể vào buổi sáng thôi mà? Chẳng lẽ chỉ huy khó tính tới mức không cho tôi vận động tay chân vào buổi sáng ư?”

“ Cái đó thì…”

Anh ta đành bó tay chịu thua, thở dài rồi cùng tôi quay lại làm việc.

Trong vòng chưa đầy nửa tiếng, chúng tôi đã hoàn thành việc chuyển đống hàng hoá lên xe. Ngồi dưới đất, tôi ngước mặt lên nhìn bầu trời.

Hôm nay, bầu trời thật cao xanh và trong veo, không gợn tí mây nào. Vì thế, trời hôm nay có vẻ nắng gắt hơn mọi ngày. Nhìn vào cái màu xanh ấy làm cho bao cảm giác mệt nhọc của tôi tan biến. Anh lính hiện đang ngồi gần tôi, lấy cái khăn bông quanh cổ lau hết mặt, đến tay rồi lại đến thân. Hết rồi, anh ta lại lấy chai nước kế bên tu một hơi tận nửa bình. Bỗng nghe có tiếng bước chân vọng lại đằng xa, tôi quay lại nhìn và nhận ra đó là vị chỉ huy. Có vẻ ông đã xong công việc của mình.

“ Tôi đã tìm cậu từ nãy giờ. Cậu đang làm gì ở đây vậy?”

“ Tôi chỉ vận động người một chút thôi mà”.

“ Vận động người ư?”

“ Vâng, đúng vậy”.

“ Chào chỉ huy. Ngài đang làm gì ở đây vậy?”.Anh lính ngồi yên từ nãy giờ lên tiếng chào. Lúc này, như mới nhận ra sự có mặt của anh ta, ông quay sang phải nhìn anh rồi mới quay qua tôi nói:

“ Cậu đã biết người sẽ hộ tống cậu đi hôm nay rồi à? Thật tốt quá! Có vẻ như tôi không cần phải giới thiệu làm gì nữa”.

“ Người hộ tống gì cơ?”. Tôi hi vọng không phải là do tôi nghe nhầm.

“ Thì không phải sáng nay tôi đã nói rồi ư? Cậu sẽ được đi nhờ đến thị trấn Vergessenheit và đây là Calvin- người tài xế của cậu”.

Ông trỏ ngón tay vào anh lính đang ngồi bên kia với vẻ mặt ngơ ngác. Thì cũng phải thôi, đến tôi còn phải ngạc nhiên trước sự trùng hợp ngẫu nhiên này.

 

xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx

 

“ Tại sao ngài lại đến một nơi xa xôi, hẻo lánh này vậy?”. Anh Calvin hỏi tôi”.

Gần như vô thức, tôi lí nhí trong miệng câu trả lời khi mắt vẫn dõi theo dãy núi tít đằng xa:

“ Để đền tội và bắt đầu một cuộc đời mới”.

“ Ngài nói gì vậy? Tôi nghe không rõ”.

Lúc này, tôi mới chợt nhận thức mình vừa nói cái gì, quay qua xua tay cố tìm đại một lí do nào đó giải thích:

“ À, chỉ là do tôi thấy nơi này thật đẹp và ít người. Đúng kiểu tôi thích nên mới đến đó mà”.

“ Vậy à? Thế ngài có biết gì về thị trấn Vergessenheit không?”

“ Chút ít thôi”.

“Vậy tôi sẽ kể ngài nghe”. Anh bắt đầu giải thích về nơi chúng tôi sắp đến:

“ Chúng ta sắp tiến tới địa phận của thị trấn. Ở đây, người dân theo lối sống tự cung tự cấp nên họ trồng mọi loại cây cần để đáp ứng nhu cầu của mình. Vì đất đai rộng lớn nên họ luôn trồng với số lượng nhiều, mà dân số lại ít thành ra dẫn tới tình trạng dư thừa lương thực. Cũng vì ở đây họ tập trung phát triển nông nghiệp nên những lĩnh vực khác ở đây không phát triển lắm, nếu có thì là số nhỏ. Ví dụ như họ không biết cách điều chế thuốc men. Do đó, nhiệm vụ của tôi là cứ hai tuần một lần, tôi sẽ chở thuốc men và các nhu yếu phẩm cần thiết khác đến cho thị trấn. Ngược lại, họ sẽ đổi cho chúng tôi lương thực. Số lương thực ấy một phần được dự trữ ở đồn, một phần được đi bán cho các nơi khác. Quân lính ở đồn trú chúng tôi sống được cũng là nhờ một phần số tiền bán lương thực ấy. Khi đang là mùa gặt thì sẽ có khoảng bốn, năm chiếc đến để chở lương thực đem về. Nhưng bây giờ chưa phải là mùa gặt nên chỉ có một mình tôi đi. À, ngài nhìn xem, có thể thấy các cánh đồng của họ rồi kìa!”

Tôi nhìn theo hướng tay anh chỉ. Ở ven hai bên đường, những cánh đồng trồng hàng chục loài cây khác nhau mà tôi không biết trải dài khắp tầm mắt. Màu xanh của lá non vẫn đang ngự trị trên các cành cây. Đoạn đường chúng tôi đang đi lúc này đã trở nên bằng phẳng hơn rất nhiều, không còn xuất hiện những ụ đất. Chắc hản là do những chuyến xe chở hàng qua lại liên tiếp của người dân đã mài nhẵn con đường. Anh lính nói tiếp:

“ Ngài nhất định phải thưởng thức bia ở đây mới được! Sống ở vùng này mà không uống nó là điều đáng tiếc nhất cuộc đời đấy! Vùng này có loại đất thích hợp nhất trong cả nước để trồng lúa mạch. Lúa mạch sản xuất ở đây chỉ toàn là loại tuyệt hạng trở lên. Mà bia  được làm từ loại lúa mạch ấy thì chỉ có thể là loại bia tuyệt hảo thôi. Ngài thử tưởng tượng xem? Sau một ngày làm việc mệt mỏi, còn gì tuyệt hơn việc cầm trên tay một cốc bia to đùng? Nâng cốc lên và nhìn thứ chất lỏng sóng sánh màu vàng rụm với đám bọt trắng xóa nổi phía trên. Rồi thì đưa lên miệng, nhấp một ngụm, cảm nhận từng chút một cái vị bia tuyệt hảo đang trôi từ từ xuống cuống họng. Còn điều gì tuyệt hơn bằng! Chưa kể ở đây, táo cũng là một loại đặc sản nổi tiếng”.

Nghe anh kể, cơn thèm khát bia sau bao nhiêu năm của tôi lại trỗi dậy. Đã lâu lắm rồi kể từ lần cuối cùng tôi uống bia. Nếu nhớ không nhầm thì là vào khoảng tám năm trước, trước ngày tôi nhập ngũ.

Từ đằng xa, một dãy tường gạch xám tro đang dần dần lọt vào tầm mắt của tôi. Có vẻ như cuộc hành trình của chúng tôi đã sắp đến lúc kết thúc. Như chợt nhớ ra một điều gì đó, anh Calvin quay qua nói với tôi:

“ Còn một chuyện tôi chưa kể với ngài. Đó là người dân ở đây hoàn toàn không sử dụng tiền để mua đồ”.

“ Ý anh là sao?”

“ Nếu muốn một thứ gì đó thì ngài phải trao đổi bằng một thứ khác có giá trị gần bằng món hàng ngài muốn đổi đó. Thông thường ở đây người dân đổi cho nhau các loại cây, trái, gia súc mà họ có. Hoặc có một số gia đình sẽ đem đổi những món đồ mỹ nghệ họ làm được để  lấy thức ăn”.

“ Có chuyện đó nữa à?”. Trước đây tôi chưa từng nghe người đó kể gì về điều này.

“ Điều luật này được phổ biến cách đây hơn ba mươi năm rồi, kể từ lúc ngài thị trưởng đương nhiệm lên chức. Nếu không phải nghe hay quan sát từ người bản địa ở đây thì ngài cũng không thể biết được đâu. Mà thông tin chi tiết hơn thì tôi nghĩ ngài nên gặp và hỏi thẳng thị trưởng thử xem”.

“ À vâng, cảm ơn về lời khuyên của anh”.

Chiếc xe đang đi qua một chiếc cầu khá rộng, đủ chỗ cho ba chiếc xe đi qua một lúc, làm bằng đá bắt ngang qua một cái rạch đào  trước tường thành. Nhìn gần mới có thể thấy dãy tường thành này cao như thế nào. Tôi nghe kể rằng thị trấn này được xây dựng trên nền móng của một tòa thành cổ có từ bốn trăm năm trước nên vẫn còn giữ nguyên kiến trúc và dãy tường của nó. Không chỉ có một màu xám đen đơn điệu, dãy tường còn được tô điểm thêm bởi màu xanh của đám rêu bám thành từng mảng trên nó.

Đến trước cổng thành là nơi anh lính thả tôi xuống, cũng là nơi kết thúc chuyến hành trình của chúng tôi.

“ Tôi phải chở hàng hóa đi bằng đường khác, không thể đi chung với ngài được nữa. Bây giờ, ngài cứ việc đi thẳng thì sẽ đến tòa thị trấn thôi. Giờ thì phải đến lúc chia tay rồi! Dù chỉ đi với nhau một quãng ngắn nhưng đây thục sự là một vinh dự của tôi khi được đi cùng ngài”.

Calvin bước xuống xe và chìa tay về phía tôi. Hiểu được hàm ý, tôi cũng đưa tay ra để bắt. Xong rồi, anh quay lên xe và khởi động máy. Trước khi xe quẹo trái ở ngã tư trước cổng thành, anh nói với  tôi thật to:

“ Một ngày rảnh rỗi nào đó, ngài và tôi cùng uống bia ở đây nhá!”

Tiếng động cơ xe khuất dần sau ngã tư. Tôi tiến bước thẳng về phía trước, tiếp tục cuộc hành trình cô độc của mình.

2

   Mất gần năm phút để đi từ nơi chia tay đến tòa thị chính. Đó là một tòa nhà cao hai tầng với lớp sơn ngoài trắng đã ngả vàng, nằm ở một ngã tư thưa người qua lại ( nếu không muốn nói là không có ai). Cộng thêm mái ngói cam đã bị lớp rêu cháy nắng bám lâu ngày nên chuyển sang đen càng làm tăng thêm vẻ cổ kính của nó. Tôi bước lên bậc tam cấp để đi vào trong. Vừa lấy tay đẩy cửa thì tiếng của cái bản lề đã bị gỉ nặng vang lên nghe thật nhức óc. Đằng sau cánh cửa xuất hiện một hành lang dài được soi sáng bởi tia nắng của buổi chiều từ dãy cửa sổ bên tay phải, bên tay trái là một hàng các căn phòng nằm liền kề nhau. Đi dọc theo hành lang, hầu như tôi không nghe thấy một tiếng động nào từ các phòng. Chỉ có độc nhất tiếng ọt ẹt phát ra từ sàn nhà gỗ đã cũ. Giữa khoảng trống của các cánh cửa, người ta treo những bức tranh vẽ khung cảnh của thị trấn. Chúng hình như đã được vẽ từ rất lâu rồi vì màu đã bị nhạt gần hết. Tôi gõ nhẹ lên cánh cửa cuối hành lang, là nơi phòng làm việc của ngài thị trưởng, không có tiếng trả lời nào phát ra từ bên trong. Tôi lại tiếp tục gõ nữa thì từ đâu có tiếng ai nói:

“ Nếu anh đang tìm ngài thị trưởng thì giờ này ngài ấy không có ở đây đâu”.

Giọng nói ấy phát ra từ người đàn ông đang đứng đằng sau lưng tôi. Đó là một người đàn ông trung niên với mái tóc muối tiêu toàn thân mặc một bộ đồ đen.

“ Anh tìm ngài thị trưởng có việc gì à?”

“ À vâng, tôi là người mới đến nhận công việc ở thị trấn này. Tôi muốn gặp ông ấy để biết thêm thông tin về công việc và nơi ở”.

“ Thì ra cậu là người được ngài thị trưởng nhắc tới mấy bữa nay à! Nếu cậu muốn gặp ngài thị trưởng thì giờ này ngài ấy đang ở ngôi trường của thị trấn để dạy học. Nó nằm cách đây khoảng ba ngã tư nữa. Cậu hãy đến đó tìm ấy”.

Tôi chia tay người đàn ông ấy và đi đến ngôi trường. Con đường vắng heo hút, nhà ở đây thì hầu như đều bị bỏ hoang. Tiếng giày của tôi gõ lộc cộc trên nền đường lát đá. Mọi thứ ở đây dường như đã dừng lại từ rất lâu rồi, không còn chảy cùng nhịp với thời gian. Xung quanh yên ắng đến lạ thường. Thỉnh thoảng, chỉ có thể nghe thấy tiếng chim thiểu não vọng lại từ cánh rừng phía Bắc. Phải chăng, tiếng chim kêu đó chính là lời than của thị trấn này?

Ngôi trường nằm trên một khu đất rộng, trống trãi với hàng rào bao quanh. Từ đằng xa đã có thể nghe thấy tiếng cười đùa của trẻ con. Chúng đang háo hức chạy ùa ra ngoài vì đã đến giờ về. Một người đàn ông luống tuổi với mái tóc bạc trắng, đeo cặp kính gọng mỏng trên sống mũi cao, mặc một chiếc sơ mi cũ đã ngả màu bên trong áo khoác đen đã bị mòn với chiếc quần cùng màu, đang đứng trước cửa trường và loay hoay để khóa nó. Có vẻ ông chính là người thị trưởng tôi đang tìm kiếm. Nhận ra tiếng bước chân của tôi, ông quay sang nhìn:

“ Xin hỏi cậu là ai vậy, chàng trai trẻ?”

“ Cháu là Klaus Steiner, người đã nhận việc thủ thư của thị trấn này”.  Tôi tự giới thiệu về mình. “ Chắc hản ngài là thị trưởng đúng không? Vài ngày trước, cháu và ngài có nói chuyện với nhau qua điện để trao đổi thông tin về công việc sắp tới của cháu. Không biết ngài còn nhớ không?”

“ Cậu là Klaus à? Hân hạnh được gặp cậu!”. Ông nở một nụ cười thật tươi, nắm lấy bàn tay tôi bắt lia lịa. “ Tôi là Aurik Kowalski, hiện tôi vừa kiêm luôn chức thị trưởng và thầy giáo của thị trấn này. Xin lỗi cậu vì bắt cậu phải đi đến đây để tìm tôi sau khi trải qua một cuộc hành trình dài”.

Họ Kowalski của ông gợi nhớ cho tôi về một cái tên quen thuộc trước đây. Chẳng lẽ ngài thị trưởng có liên quan gì với người đó chăng?

“ Phiền cậu nhưng mà chúng ta có thể qua bên kia ngồi một lát được không?”. Ông vừa chỉ qua băng ghế gỗ cách chỗ chúng tôi đang đứng không xa, vừa lấy tay đặt lên đầu. Nụ cười ban đầu tắt ngấm, thay vào đó là khuôn mặt nhăn nhó, khổ sở vì cơn đau đầu. Tôi dìu ông qua bên đó ngồi”.

“ Xin lỗi cậu nhiều lắm. Dạo này sức khỏe của tôi không được tốt cho lắm”. Ông ngồi trên ghế, vừa lấy tay xoa đầu vừa cười. Rồi ông bỗng ngồi thẳng lên lại, vào luôn chủ đề chính:

“ Như đã thảo luận từ trước, công việc của cậu sẽ là thủ thư của thị trấn này. Vị trí đó đã trống hơn năm năm nay rồi, thật mừng vì cậu đã nhận nó. Giờ thì tôi sẽ vào thẳng vấn đề luôn…” Ông thở dài: “ Thư viện lúc này đang rất bụi bặm. Sau một trận động đất cách đây hai năm thì một phần tường gạch đã bị vỡ. Chúng tôi đã dựng nó lại rồi nhưng chưa có dịp dọn dẹp lại ở bên trong. Hi vọng cậu sẽ dọn lại giùm. Thư viện thì nằm trên ngọn đồi nhỏ đằng kia kìa”. Ông chỉ tay lên một tòa nhà nhỏ màu đỏ nằm trên con đồi đằng xa, rồi quay về màn độc thoại của mình: “ Còn về chỗ ở thì cậu sẽ ở một ngôi nhà ở gần nơi đó. Ở đây, chắc cậu cũng đã thấy, người dân rất ít nhưng nhà hoang thì lại rất nhiều. Chúng tôi đã chọn sẵn và xử lí một ngôi nhà để biến đó thành nơi ở mới của cậu. Cậu có thắc mắc gì nữa không?”

“ Cháu đã được nghe kể là ở đây không có sử dụng tiền. Vậy thì những vấn đề như thức ăn, quần áo thì phải giải quyết như thế nào?”. Tôi nêu ra thắc mắc từ nãy giờ của mình

“ Về chuyện đó, cậu không cần phải lo. Vì cậu làm trong bộ phận trực tiếp phục vụ cho thị trấn nên chúng tôi sẽ cung cấp thức ăn cho cậu hàng ngày. Ba buổi một ngày. Mỗi khi tới giờ ăn, cậu chỉ việc đi tới nhà ăn chung của thị trấn. Còn về quần áo thì khi cậu cần, cậu cứ liên hệ với tôi. Tôi sẽ báo cho người thợ may đến để làm cho cậu…”. Như thể đã mệt sau một hồi nói, ông im lặng trong giây lát, nhìn lên bầu trời xanh đang dần bị ăn mòn bởi màu cam của buổi xế chiều. Sau đó, ông tiếp tục giảng giải về hệ thống của nơi đây: “ Ở đây, người dân đều phải hoạt động trên những cánh đồng vào buổi sáng, ngoại trừ những người làm những công việc liên quan đến xây dựng thị trấn. Tôi xin nhấn mạnh lại rằng họ chỉ làm việc vào buổi sáng, còn buổi chiều họ sẽ được tự do làm những công việc yêu thích của mình như làm bánh, làm bia, đồ thủ công mỹ nghệ… Họ sẽ trao đổi nó với người xung quanh để lấy thứ mình cần”. Ông dừng lại để lấy hơi nói tiếp:

“ Mỗi tháng, người dân sẽ phải nộp 5% tổng số thu nhập của mình vào quỹ của thị trấn để phục vụ cho những người tôi kể trên. Ngoài ra, những người trên năm mươi lăm tuổi sẽ không cần phải làm việc. Họ cũng sẽ được hưởng chung phần thuế ấy. Người già ở thị trấn này rất nhiều, chủ yếu họ sống một mình vì gia đình của họ một phần đã di chuyển đến nơi khác sống, một phần đã chết khi đi chiến tranh. Cậu cũng là một quân nhân, chắc cậu có thể hiểu được điều đó nhỉ? …”

Màn độc thoại của ông bị dừng lại đột ngột bởi tiếng bước chân từ đằng xa. Chủ nhân của tiếng bước chân ấy đang tiến về phía nơi chúng tôi ngồi:

“ Chào buổi chiều, ngài thị trưởng! Bác đã xong việc rồi à?”

Giọng nói từ bên thứ ba ấy xuất phát từ một cô gái trẻ với mái tóc dài ngang lưng, vàng hoe như màu nắng. Khuôn mặt thon gọn với sống mũi cao cùng đôi môi mỏng. Nước da trắng trẻo nhưng vẫn có xuất hiện vài vệt đỏ do cháy nắng. Đôi mắt màu xanh biếc lấp lánh như nước của dòng sông Volrin dưới hàng lông mi đen cong vút. Thân hình mảnh mai đằng sau một bộ đầm liền thân tay phồng, dài quá đầu gối với phần trên màu kem, phần dưới là sọc caro màu đỏ đậm. Bộ đầm ấy chắc hẳn đã được mặc từ lâu vì có vài miếng vá trên đó, vải thì mòn cả ra. Nhưng điều đó vẫn không làm giấu đi cái vẻ đẹp kiêu sa của cô. Dường như cô không để ý đến sự hiện diện của tôi mà tiếp tục nói chuyện với ngài thị trưởng:

“ Ngày hôm nay đẹp thật bác nhỉ? Bác đang ngồi nghỉ à?”

“ Ừ, có vẻ như cơn đau đầu của bác lại tiếp diễn rồi. Mà quan trọng hơn…”, thị trưởng bắt đầu giới thiệu về tôi, “ Đây là Klaus Steiner, thủ thư mới của chúng ta. Cậu ta vừa đến đây hôm nay”.

Sau lời giới thiệu của ông, tôi tự đứng lên để nói chuyện với cô:

“ Tôi là Klaus Steiner. Năm nay tôi 26 tuổi. Hân hạnh được gặp cô! Tôi là người mới đến đây, có gì mong cô chiếu cố”.

Tôi chủ động đưa tay ra để bắt. Cô khẽ đưa mắt lướt nhìn toàn thân tôi rồi mới đưa tay ra:

“ Lần đầu gặp mặt. Em là Eila Muller, 18 tuổi. Hân hạnh được gặp anh. Sau này chúng ta cùng giúp đỡ nhau nha!”

Thì ra cô gái này trẻ hơn tôi nhưng nhìn cô trông trưởng thành hơn tuổi của mình nhiều. Bàn tay của cô tôi đang nắm lúc này rất ư là mềm mại nhưng vẫn có vài vết chai sần trong lòng bàn tay. Chắc hẳn cô đã từng làm việc rất nhiều mới có thể tạo nên những vết chai đó.

“ Bác có thể nhờ cháu chuyện này được không, Sanja?”. Ngài Aurik nói tiếp với cô: “ Cháu có thể đưa cậu ấy đến chỗ ở và làm việc mới của mình được không? Bác e là với tình trạng của bác bây giờ thì không thể làm gì được rồi!”

“ Đương nhiên là được rồi bác. Cứ để cháu lo. Còn giờ thì bác hãy về nghỉ đi!”

3

“ Tại sao anh lại đến thị trấn này?”. Eila hỏi.

Sau khi chia tay ngài thị trưởng, chúng tôi rảo bước đến thư viện. Đi được một lúc thì Eila hỏi tôi câu ấy. Đây là lần thứ hai trong ngày tôi được hỏi về chuyện đó. Có vẻ như một người đến đây là chuyện rất lạ hay sao ấy!  Tôi xử dụng tiếp lí do hồi sáng đề trả lời cô:

“ Chỉ là nơi này thật đẹp và ít người. Tôi thích nó nên quyết định đến đây sống thôi mà”.

“ Vậy à?”

Cô trả lời trong khi vẫn dán mắt xuống đôi chân đang bước trên mặt đất của mình. Rồi cô đưa mắt nhìn lên trời. Khoảng trời trên lục địa Non- human lúc này đang được bao phủ bởi một màu cam của buổi chiều tà, còn bầu trời đằng sau lưng của chúng tôi chỉ còn leo lét chút màu xanh lam. Xa xa, từng đàn chim đang bay từ lục địa Non-human về phía bờ bên này. Những tia nắng cuối cùng của buổi hoàng hôn cũng đã di chuyển từ trên mặt nước sông sang bờ bên kia, chiếu sáng rộng cả một vùng đất của lục địa Non-human. Ai đó đã từng nói rằng hoàng hôn là sự kết thúc đẹp nhất quả không sai mà!

“ Thế thì tại sao anh lại nhận công việc thủ thư?”. Cô hỏi tiếp.

“ Chắc là tại tôi thích sách chăng?”. Tôi trả lời. Đó là lời nói dối thứ ba của tôi trong ngày. “ Có vấn đề gì à?”

“ À không có gì đâu. Chỉ là anh làm em nhớ tới người thủ thư trước đây thôi”. Cô trả lời: “ Nếu giờ anh ấy ở đây thì không biết anh ấy sẽ nói gì nhỉ?”.

Một khoảng lặng kéo dài giữa hai chúng tôi. Chúng tôi chả nói chả rằng một lúc lâu. Để phá vỡ bầu không khí yên ắng đó, Eila lên tiếng trước:

“ Có thể anh cũng đã để ý. Chúng ta đã đi từ nãy giờ nhưng không thấy được một bóng người” Cô nói tiếp: “ Người dân ở đây vốn đã chuyển đến nơi khác sinh sống vì họ một phần không thể chịu được cái cảnh hoang tàn, quạnh hiu của cái thị trấn này. Đồng thời họ cũng không muốn sống trong nỗi nơm nớp lo sợ việc có thể bị bọn Beasts tấn công bất cứ lúc nào. Không trách được điều đó vì dù sao thị trấn này cũng là nơi tận cùng của trái đất mà. Nó đang tồn tại đúng như cái tên của nó:  bị lãng quên”.

Đôi mắt của cô lúc này như đang nhìn vào khoảng không vô định nào đó thay vì những cảnh quan trước mặt. Trông như đang chứa đựng một nỗi cô đơn bất tận và cũng thật buồn làm sao!

Đến một ngã tư chúng tôi quẹo phải rồi leo cầu thang dẫn lên ngọn đồi. Thư viện tọa lạc trên ngọn đồi này mà từ đây có thể nhìn bao quát  toàn cảnh thị trấn. Trên lối vào thư viện có một tấm bảng gỗ bám đầy bụi đã bị lỏng vít nên rơi xuống một nửa đề một dòng chữ màu đen thật to: ‘Thư viện’.

Toàn bộ khung cảnh của lục địa Non-human mà ban nãy không thấy hết giờ đây đang trải dài khắp tầm mắt của tôi. Trước khung cảnh hùng vĩ đó, chợt nhận ra chúng tôi quá đỗi nhỏ bé trong cái thế giới rộng lớn này. Mỗi bước chân của chúng tôi dẫm lên nền lá khô khá dày dưới đất liên tục tạo nên tiếng lào xào.

“ Đúng rồi, em vẫn chưa nói điều này. Có thể hơi muộn nhưng vẫn còn hơn không”. Eila chạy lên phía trước. Lúc này tôi không thể nhìn rõ khuôn mặt của cô vì cô đang đứng quay lưng về phía mặt trời. Sau một hồi trầm tư, cô nói tiếp: “ Chào mừng anh đến với: Vùng đất của những con người bị lãng quên. Nào! Giờ thì chúng ta cùng tham quan bên trong nha!”.

Phía đường chân trời, mặt trời đã lặn gần hết. Những tia nắng yếu ớt cuối cùng trong ngày cũng dần tàn lụi.

Ở thị trấn Vergessenheit, nơi tận cùng Trái Đất, bánh xe thời gian của nó vừa chuyển động lại. Kéo theo nó là những câu chuyện, những cuộc gặp gỡ mới sẽ làm thay đổi của thị trấn “ bị lãng quên” này.

0

1 Comment

  • Inoue Itami Posted at December 2, 2017 at 1:30 am

    Mình rất thích đề tài bạn lựa chọn. Cố gắng ra chương mới nha!

Leave a Reply

Site Menu