[Oneshot] Đứa trẻ

0

Trong suốt cuộc đời nhàm chán của mình, điều duy nhất giữ cho tôi không quan tâm đến nó là những câu chuyện kể, những xấp giấy nằm chồng chéo lên nhau trong cái hộp bằng thiếc mà mụ vợ quá cố từng quẳng vào mặt tôi. Và tôi có thể khẳng định rằng không dưới vài trăm trong số chúng vĩnh viễn chỉ có thể được biết đến bởi tôi. Nhưng hãy tạm dừng mọi sự ở đây trước đã, bởi hôm nay tôi ở đây không phải để khoe mẽ về cái gia sản kếch xù những câu chuyện lượm lặt. Tôi ở đây để đối mặt với bạn qua những con chữ, để kể cho bạn nghe về cuốn nhật ký cũ mèm mà tôi nhặt được trong kho tài liệu của tòa thị chính nhiều năm về trước.

Chú ý nghe cho thật kỹ nhé, cõ lẽ bạn sẽ thấy đây chỉ là một câu chuyện bình thường, nhưng tôi chỉ muốn xác nhận rằng chính sự bình thường ấy lại chỉ ra nỗ lực phi thường về một cuộc đời đáng giá. Vậy nên nếu bạn thật sự có hứng thú, hãy nán lại những dòng này thêm ít phút nữa và tôi sẽ chỉ cho bạn thấy điều mà tôi đã đọc được.

Câu chuyện của chúng ta bắt đầu bằng một cơn mộng mị:

*

      *

Mỗi khi tôi đặt lưng xuống nhắm mắt lại, màn đêm xung quanh sẽ chỉ còn là một màu vàng thối rữa. Hoặc nếu tôi cố gắng mở to mắt ra và nán lại đủ lâu để quan sát những đám mây cháy sém, chúng sẽ bắt đầu nổ lách tách giữa vòm trời bốc mùi trứng ung như một lễ hội pháo hoa rực rỡ. Và rồi vòng đời ngắn ngủi ấy của chúng kết thúc dưới hình hài của hàng triệu đốm sáng ly ty, chập lại với nhau tạo thanh một thứ dung dịch đặc quánh màu đỏ bầm thi nhau trút xuống mặt đất.

Như biết bao con người bình thường khác, tôi đã cố gắng nhìn nhận một cách tích cực hơn trước cảnh tượng chẳng mấy đáng sợ này, ấy vậy mà thứ ung nhọt ấy lại luôn biết cách khiến tôi phải bận tâm về nó. Cái sắc đỏ đảng tởm đó bám lấy tâm trí tôi một cách dai dẳng hệt như cái cách nó tàn bạo nuốt trọn lấy màu vàng úa tội nghiệp trên nền đất. Tôi đã thử rất nhiều cách hòng giữ cho bản thân thật tỉnh táo, một điều nghe có vẻ lạ lùng khi ta đang mơ, nhưng chuyện này bao giờ cũng kết thúc trong nỗi thật bại ê chề vào khoảng khắc tôi nghe được tiếng thét cáo xé không gian của chính bản thân mình.

Và bạn biết đấy, ngày hôm nay cũng không phải là một ngoại lệ. Điều kỳ diệu ấy dường như chưa bao giờ xảy ra.

Tôi thất thần nhìn những bức tường xung quanh như một kẻ đần độn, ít nhất là cho đến khi một giọng nói khản đặc len lỏi vào khoảng không tĩnh lặng.

“Này Hal, tớ gạt đổ đống domino này được không?”

“Không.” Tôi lập tức đáp lại theo bản năng.

“À há, vậy tớ gạt nhé.”

“Đã bảo là không mà. Bỏ ngón tay xỏ lá của cậu ra ngay!”

Ngay khi đầu tôi “ding” lên một tiếng báo hiệu rằng nó đã trở về thực tại, những quân cờ domino lần lượt đổ sụp xuống theo hình xoắn ốc trên sàn nhà. Chúng trông như một thành phố hoang tàn chỉ còn lại bê tông và đất đá. Và thủ phạm chịu trách nhiệm cho hành động thô bạo này là cái bóng đen mờ mờ đang ngồi trước mặt tôi. Một đứa trẻ khoảng tầm 7 tuổi với mái tóc màu cà rốt, dáng người gầy đét và đôi mắt nâu thẫm trong veo như mặt hồ phẳng lặng, hay nói ngắn gọn hơn chính là một bản sao như đúc của tôi tựa như đang soi gương.

Steiner, đó là cái tên mà cậu ta tự xưng, nhưng đôi lúc tôi lại thích gọi bằng biệt hiệu ‘thằng quỷ cùng phòng trâng tráo’. Cái sự trâng tráo bắt nguồn từ một chuỗi các sự kiện khác nhau theo mức độ nghiêm trọng tăng dần trong suốt 10 năm qua: sơn đỏ tất cả các bức tường trong nhà trong một lần phấn khích quá độ, đốt cháy ba cuốn nhật ký của tôi chỉ vì cảm thấy chúng thật chướng mắt, đập vỡ toàn bộ những cái gương có thể tìm được, cả gan ăn trộm rất nhiều đồ hộp từ văn phòng viên trung úy béo núc rồi vứt hết súng của lão xuống cái hồ gần đó như một thú vui giết thời gian, và còn rất nhiều những chuyện kinh thiên động địa khác mà tôi phải mất cả tuần mới liệt kê nổi.

Và đó chỉ là một khởi đầu nhỏ.

Hãy đợi cho tới khi tôi hoàn tất những công việc thiết yếu trước khi bước ra khỏi căn gạch ọp ẹp của mình, tôi sẽ chỉ cho bạn thấy toàn bộ câu chuyện về kẻ đồng phạm này.

Trước hết, xin đừng vội trách cứ Steiner vì những chuyện cậu ta gây ra, bởi ngay bây giờ đây thì tôi cũng đang sắp sửa vượt rào ăn trộm vài trái táo căng mọng cuối cùng trên nông trại của một gã sùng đạo gàn dở tên Kurt. Tôi đang đùa với ai cơ chứ, ăn cắp vặt chỉ là vấn đề sớm muộn khi bạn sống trên con phố Tot nghèo nàn nơi chúng tôi sống. Đạo đức và từ ngữ không thể khỏa lấp được dạ dày, vậy nên ta chỉ có thể trông đợi rằng một vài hành động tội lỗi có lẽ sẽ được tha thứ bởi sự túng thiếu. Ba tuần húp toàn súp loãng do dì tôi nấu đã là quá đủ rồi.

Nhưng đó vẫn chỉ là một phần của lí do.

Ngoài việc cỏn con đó ra, tôi cũng cần thật nhiều năng lượng hôm nay cho một chuyến đi trọng đại. Mẹ cùng em gái tôi sẽ bắt tuyến xe lửa số 6 từ Cologe về Tot, và bố đã hứa sẽ rời khu quân y ở chiến trường trước 2 giờ chiều để đón họ cùng tôi tại sân ga.

Lẽ dĩ nhiên, Steiner và tôi sẽ phải cuốc bộ đến đó vì bây giờ chẳng còn chiếc xe kéo nào cả, nhưng đối với hai đứa trẻ mà nói thì đấy lại là cuộc hành trình hết sức nhẹ nhàng đến xứ thần tiên. Chúng tôi đi dọc con đường dài thênh thang rợp bóng cây dẻ đỏ, nơi nắng sớm chảy xuyên qua hai hàng lá thưa và những tiếng cười như nhấc bổng chân lên khỏi mặt đất lấm bùn. Tôi cảm thấy người mình như lâng lâng, nhưng cái niềm vui bé nhỏ ấy chỉ kéo dài cho đến khi con đường chia làm hai ngả. Lối đi trơn nhẵn và tràn ngập tiếng hót ngân vang của những con họa mi tội nghiệp đã bị xới tung lên thành hàng đống đất đá hỗn độn như một bãi rác thải. Viễn cảnh tươi đẹp cũng vì thế mà bị đánh bay sau một tràng thở dài đến não ruột.

Quả là đáng tiếc cho một con đường đẹp. Điều này càng khiến cho chuyến đi trở nên mệt mỏi hơn đúng như bản chất ban đầu của nó.

“Chúng ta phải chọn lối đi khác thôi. Đường này hình như cũng dẫn đến nhà ga thì phải.” Steiner lên tiếng xác nhận và chỉ vào con đường bên cạnh, khúc khuỷu và bốc mùi lá rữa.

“Thế còn đường này thì sao?”

Ánh mắt của tôi chợt nán lại con đường món nằm dưới chân ngọn đồi gần đó. Từng tế bào trong tôi mách bảo rằng đó là hướng đi đúng đắn nhất mà tôi có thể quyết định, nhưng tôi lại chẳng hề có bất cứ ký ức đặc biệt nào về nơi này cả.

“Đừng. Lối đó…lối đó không an toàn đâu.”

Lời đáp trả ậm ừ của Steiner càng làm dấy lên mầm mống của một mối nghi hoặc mơ hồi. Tôi cảm thấy hơi khó chịu vì người mà tôi tin tưởng nhất lại đi giấu giếm những điều mà tôi vốn nên được biết.

“Tại sao?” Tôi cố chấp gặng hỏi, và nhận được một câu trả lời vô cùng gay gắt: “Vì vào cái khoảng khắc cậu bước vào đó, cậu sẽ thực sự trở thành một người lớn đấy đồ cứng đầu. Và cậu thì vẫn chưa sẵn sàng để chấp nhận chuyện đó.”

Đôi mắt trong veo của Steiner bỗng chuyển sang màu đục, màu của những sinh vật to xác hung tợn mà mọi người hay gọi bằng cái tên ‘người lớn’, một cái bóng xa lạ không hơn không kém.

….”Ực”

Chỉ cần nghĩ đến thôi là tôi đã phải nuốt nược bọt và cảm thấy thật may mắn khi điều tệ hại đó chỉ kéo dài trong vài giây ngắn ngủi.

“Tớ hiểu rồi.” Tôi ỉu xìu lầm bầm. Nỗi chán chường cũng chỉ đến thế là cùng. Thật là mất hứng.

Sau khi nghe được câu trả lời từ tôi, Steiner cũng không bộc lộ thêm bất cứ biểu hiện đặc biệt nào khác. Cậu ta chỉ mím môi, một hành động chẳng rõ xuất phát từ xúc cảm nào, và tất cả chỉ có thế.

Một biến động nhỏ trước lát cắt sự thật mờ mịt.

Lẽ ra tôi đã có thể tiến đến gần nó hơn, nhưng tôi đã chọn ở lại cùng màu xanh xỉn của bầu trời tháng 9 năm 1945 và phố Tot thêm một thời gian nữa.

Sau khi đi hết con đường mà Steiner đã chọn, cơ thể rệu rã của chúng tôi mới được nghỉ ngơi khi hai chủ nhân quyết định ngồi xuống cạnh gốc sồi già nằm ven bờ suối. Tên trâng tráo kia bỗng tỏ ra mệt mỏi đến lạ, vậy nên tôi cố ý bẻ ổ bánh mì đen làm hai nửa không đều để chưa phần to hơn cho cậu ta.

Sau khi đã ăn uống no nê, tôi lại một lần nữa chìm vào giấc ngủ sâu. Chậm rãi hòa làm một với cơn mơ, viễn cảnh tươi đẹp khi cả nhả tôi còn sung túc hiện ra chân thực đến độ tôi chỉ muốn nhảy ào vào vồ vập lấy nó. Đầu lưỡi tôi tràn ngập hương vị ngọt ngào của những cốc sữa bò nóng hổi vào mỗi buổi sáng, hai bên mũi như phồng lên bởi mùi thơm ngào ngạt từ chiếc bánh táo mới nướng trong lò của mẹ. Tiếng chơi cờ lách cách của em gái và bố tôi vang lên thành một bản giao hưởng lộn xộn, hòa cùng tiếng piano dở tệ do tôi tập đàn.

“Đừng dừng lại nhé mọi người.”Tôi thì thầm. Dường như có một niềm vui to lớn trong những điều không thật, và đó là khoảng thời gian hạnh phúc hiếm hoi mà chúng tôi có được trước khi những điều tồi tệ ập đến.

Niềm hạnh phúc ấy chấm dứt lúc tôi chuẩn bị thức dậy.

Khung cảnh đầm ấm trong giấc mơ kia tiếp tục hoen gỉ rồi cháy rụi giữa bầy chuồn chuồn đen nhẻm và những món quà mà ta nhận được từ chúng.

“Chúng ta đi tiếp thôi Steiner.”

Tôi đứng lên lay cậu ta dậy, và chúng tôi nhấc chân bước tiếp trên con đường mòn đang chờ đợi ở phía trước. Không mất nhiều thời gian để xác định xem chúng tôi còn cách điểm đến bao xa, vì chẳng bao lâu sau đó nó đã trồi lên ở cuối tầm nhìn, một cảnh cổng cũ kĩ được sơn màu đỏ rực hệt như mặt trời của buổi bình minh.

Lạ lùng làm sao, chẳng có chiếc xe lửa nào trên ray cả.

Nỗi bồn chồn vừa mới nguôi ngoai trong tôi nay lại luẩn quẩn quanh một vấn đề khác.

“Không sao đâu Hal, chắc chắn tuyến xe lửa chở mẹ cậu sẽ về đúng giờ mà.”

“Tớ cũng mong là như vậy.”

Môi mím chặt lại vì lo lắng, tôi lắc đầu tự trấn an bản thân. Tiếng sột soạt do sải bước qua những bụi cỏ rậm rạp vang lên khi hai đứa tiến đến gần bục đón tàu. Steiner sau đó nằm vật ra đất trong tư thế đầy mỏi mệt như đang sốt, hai mắt nhắm nghiền thể hiện rằng cậu ta đã kiệt sức đến nơi mặc dù bây giờ kim ngắn mới chỉ trượt qua con số 3 chưa đến 2 mm.

“Oài, hi vọng xe lửa sẽ cập ga sớm để mình còn về ăn tối ha Steiner. Cậu cũng đói rũ cả người rồi đúng không đồng chí? Bao tử của tớ đang đánh trống đến quặn hết cả lại rồi đây này. Sẽ thật tuyệt nếu mẹ mang gì đó về cho chúng ta ăn từ nhà bà ngoại.

Còn về phần bố, tớ không trông mong gì nhiều về những món quà ông có thể mang vì từ bệnh viện quân y. Cái nơi gọi là chiến trường mà ông đang ở ấy, nơi đó chỉ toàn là vũ khí và đất cát không à. Cậu có còn nhớ mụ chủ tiệm bánh kẹo Hile đã nhận được gì khi những người mặc quân phục giống bố đến gõ của không? Một cái tay giả nhem nhuốc được bọc trong chiếc khăn trắng tinh lốm đốm những vệt màu đỏ bầm. Đó đúng là chuyện nực cười nhất mà tớ từng chứng kiến. Có ai mà lại muốn nhận một cái tay giả xấu xí đến vậy cơ chứ? Ấy thế mà người ta vẫn dám đem đi tặng như một lẽ hiển nhiên…”

Trong những nố lực chuyện trò nhằm làm vơi đi nỗi lo thầm kín của bản thân cũng như sự kiệt quệ về cả thể xác lẫn tinh thần của Steiner, giọng nói của tôi gần như bị át đi khi những hồi còi báo động vang lên và tiếng hú inh ỏi của loa phát thanh bất chợt tìm đến sân ga tĩnh lặng.

“UUUUUUUUUUUUUUUUU”

Kể cả những kẻ đần độn nhất phố Tot cũng có thể nhận ra chúng đang báo hiệu điều gì khi tiếng “uu” của động cơ máy bay lọt vào tai.

Những hiểm họa khủng khiếp đến từ bầu trời – thần chết chỉ cách ta một khoảng không ngắn ngủi.

Sự hoảng loạn tột độ dần chiếm trọn lấy tâm trí. Tôi chỉ còn ít hơn mười phút để quyết định xem mình phải đi đâu. Những nhỡn ảnh nhảy múa trong ký ức dần dần bị loại ra trong giới hạn làm nơi trú ẩn, và chỉ còn một cái duy nhất còn sót lại.

Một căn nhà gỗ nhỏ xíu và bốc mùi, và càng tuyệt vời hơn nữa khi nó nằm ở khuất sau một ngọn đồi rậm rạp. Ngặt nỗi ta chỉ có thể đến đó theo con đường sỏi mà Steiner đã cảnh báo rằng tôi không nên bén mảng đụng vào.

Ôi chao ôi, đừng trẻ con đến vậy, tôi đang ở vị thế nào để lo nghĩ đến chuyện cỏn con đó cơ chứ? Tôi đang ở rơi vào một tình thế tiến thoãi lưỡng nan, một vấn đề sinh tử thực thụ trong khi Steiner vẫn nằm mê mệt một chỗ. Thế là tôi đành mặc kệ những điều mà mình đã nghe và quăng cậu ta vào một cái xe đẩy gần đó, cố gắng dùng hết sức bình sinh chạy thục mạng đến căn nhà gỗ thoắt ẩn thoắt hiện trong ký ức.

“Hal…” Steiner mơ màng thì thầm “Sao cậu lại phải chạy thế?”

“Vì những chiếc máy bay đang đến Steiner ạ! Mà tớ cũng chẳng có dư thời giờ để giải thích đâu.”

“Máy bay? Làm gì có chiếc máy bay nào?”

“…Cậu có vẻ mệt đến lũ lẫn rồi đấy Stein. Hãy cứ im lặng và nghỉ ngơi cho tốt đi.”

“Cậu nói gì cơ?”

Khuôn mặt cau có của Steiner biến chuyển dần từ mơ màng sang ngạc nhiên, và cuối cùng là kinh hãi vào khoảnh khắc căn nhà chỉ còn cách chúng tôi vài nhịp chân chạy. “Thả tớ xuống! Thả tớ xuống!” Cậu ta liên tục giãy giụa, và tôi càng khẳng định được rằng Steiner sắp phát điên đến nơi rồi. Nhưng sức chú ý của tôi lập tức rời khỏi người bạn đồng hành khi ba tấm bia đá bé tẹo bỗng trồi lên ngang tầm nhìn khi tôi tiến đến gần hơn. Rất có thể nếu thật sự dư dả thời gian, tôi nhất định sẽ dừng lại và cúi xuống đọc những từ ngữ được khắc trên chúng, nhưng thật buồn là quỹ thời gian của tôi lại vô cùng giới hạn. Những hồi còi báo động vẫn ở đấy như một lời cảnh cáo đối với bất kỳ hành động mạo hiểm nào, và những cột khói xám xịt ở đằng xa rồi cũng sẽ sớm xuất hiện đằng sau con phố nhỏ.

“Tớ sẽ vào kiểm tra trước nhé. Cậu cứ ở yên đây là được.”

Sau khi thông báo cho tên Steiner đang nằm vật vạ trong xe đẩy trước, tôi mới quyết định đẩy cửa bước vào. Những mảnh vụn gỗ rơi lả tả xuống đầu tôi khi cảnh cửa kẽo kẹt mở ra, và theo tôi nhận thấy nó thật sự là một điềm gở. Và rồi khung cảnh choáng ngợp ấy đập vào tầm nhìn của tôi như một cú tát của sự vỡ mộng.

“Cái quái gì đang diễn ra ở đây thế này…”

Trước mắt tôi, khu phố Tot giờ đây chỉ còn là một đống gạch vụn trộn lẫn với kính vỡ, và nằm ngay chính nơi từng là nhà của tôi là một cái hố lớn hình bát ngửa trông như vừa bị lũ giòi bò nào đó đục khoét. Chẳng có tiếng loa phát thanh hay còi nào ở đó cả, thay vào đấy là những tiếng khóc chồng chéo lên nhau, tiếng chửi rủa của những mảnh đời bất hạnh và sự im lặng của những người đã khuất. Họ chất thành đống ở khắp mọi nơi và mắc kẹt trong mùi xác thối đang phân hủy, tệ hơn nữa là nằm xiên vẹo giữa những tiếng cười khinh bỉ của những tên tội đồ nấp sau mây mù.

Thật kinh tởm, cái ngữ máu lạnh ấy mới đáng khinh bỉ làm sao.

Lẽ nào đó là số mệnh mà họ đáng phải hứng chịu ư?

Không, không phải, tất cả là do chúng. Tất cả là vì những quả bom!

Ngay trước khi tôi có cơ hội quay người đi để thoát khỏi chốn địa ngục này, một tờ báo cũ mèm bỗng rơi từ cái kệ gãy bên hông xuống chân tôi. Và mớ giấy lùng nhùng ấy đã trở thành mầm mống của một loạt các suy tưởng vặn vẹo.

Nằm ngay trang nhất chính là mẩu tin sốt dẻo về tuyến xe lửa số 6 bị bom đánh cho tan tác trên đường về Tot ngày 19/12/1935, những từ ngữ thống thiết kéo dài hết một mặt giấy chỉ để kể lể về sự đáng thương của những nạn nhăn xấu số, những cái xác thối rữa dính chặt lấy nền đất ám khói cũng như điểm dừng chân cuối cùng dành cho toàn bộ hành khách trên chuyến đi định mệnh mà họ đã chọn.

Sau đó là một tràng thở phào nhẹ nhõm.

1935.

“Ơn trời, làm mình muốn đứng tim đến nơi. Mặc dù ngày tháng thì giống thật đấy, nhưng chuyện quái quỷ này đã xảy ra cách đây mười năm rồi. Vậy nên mình chẳng có lí do gì để lo lắng về nó cả.”

Tôi toét miệng cười cợt nhả trước sự ngu xuẩn của bản thân. Đức mẹ trên cao chứng dám, làm sao mà mẹ và đứa em gái bé bỏng của tôi có thể phải chịu cái chết đau đớn đến vậy cho được. Tôi đúng là điên chẳng khác gì Steiner khi dám mảy may nghĩ đến chuyện đó. Họ vẫn đang ở đây, giữa cái thế giới bụi bặm này, và có lẽ họ đang ngồi ở nhà chờ tôi ngốn sạch chỗ bánh kẹo mang về từ nhà ngoại. Một ý tưởng tuyệt vời. Và chỉ vài ngày nữa thôi, tôi sẽ lại kể cho Steiner nghe rằng mình đã được chào đón một cách tệ hại như thế nào bởi những lời giễu cợt tệ hại của đứa em gái khi nó nhìn thấy khuôn mặt lấm lem bùn đất của anh trai, một việc mà tôi thường rất lấy làm khó chịu, nhưng tận sâu trong thâm tâm tôi luôn đặt chúng sánh ngang với bản sonata ánh trăng du dương mà bố hay đàn cho cả nhà nghe.

“Phải, đúng thế. Không thể nào sai lệch đi đâu được.”

Tôi lầm bầm, khóe mắt bỗng cảm thấy cay cay.

Tôi đùng là điên rồi, điên thật rồi! Điên đến độ khóc rống lên chỉ vì nhớ đến nụ cười ấm áp của mẹ, nhớ đến những nụ hôn rất đỗi dịu dàng mà bà đã trao cho tôi trước lúc chìm vào giấc ngủ. Và rồi chúng lại hoen gỉ, hệt như giấc mộng xa vời mà tôi may mắn có được cách đây vài canh giờ lẻ, một đốm lửa tàn bùng cháy giữa hai dòng thác cuộn trào cứ mãi tuôn ra trên gương mặt nhớp nháp của tôi.

Tại sao thế? Tại sao mọi thứ lại phải rõ ràng vào cái khoảnh khắc mà đáng ra nó nên tiếp tục mờ mịt vậy hả?

“Rột. Rột. Rột” , những mảnh ghép chắp vá càng ngày càng tiến lại gần nhau hơn để tạo thành một bức tranh hoàn chỉnh.

Đầu tiên là mẹ và em gái.

Những mảnh xác vung vãi mà tôi đã phải chạy đến tận nơi đoàn tàu bị đánh bom để nhặt lại giữa đống thịt nát lổn ngổn.

Phần đầu đứt lìa của họ vẫn mở mắt, nhưng nơi đấy không còn là đôi mắt xanh biếc của em và mẹ. Chúng trống rỗng và vô hồn, những cặp mắt chết tanh tưởi. Không có gì đi vào, đi ra hay còn đọng lại sau tất cả.

Rồi tôi nhìn thấy bản thân liêu xiêu ôm cái bọc đựng xác ấy về phía căn nhà gỗ, nơi linh hồn của bố tôi dính chặt lấy nền đất lạnh lẽo, thân người vặn vẹo cứng đờ như một khúc gỗ khô. Đôi bàn tay chơi piano của ông giờ đây chỉ còn là một mớ bầy nhầy bị cháy xém. Một đống hổ lốn đã không còn là cha của tôi. Và tôi lại òa lên khóc khi nhìn thấy khuôn mặt rúm ró kinh hoàng của bố. Lạy chúa, người đàn ông đã từng ngồi cùng tôi tại nơi này là đây sao? Người đàn ông đã chia hết bữa sáng cuối cùng của mình cho những người ăn xin khốn khổ đấy ư? Tại sao một con người đáng mến như vậy lại có cái kết cục thảm thương thế này cơ chứ! Chẳng lẽ chính nghĩ đã rời bỏ đất nước này rồi hay sao?

“Vì sao cơ chứ? Vì sao mình là người duy nhất phải ở lại đây để chứng kiến những điều tồi tệ này vậy…”

Tôi vòng tay ôm lấy xác bố, lòng thầm ước giá như thời gian có thể ngừng trôi mãi mãi vào khoảng khác tôi lên mười. Nhưng thứ ước vọng viển vông ấy là bị phá nát bươm khi hiện tại và quá khứ chập lại làm một. Sự ra đi của họ là mãi mãi, không gì có thể thay thế được, cũng như nỗi bất hạnh kinh khủng ấy không bao giờ có thể xóa nhòa.

Những suy nghĩ như thế đã đốc thúc tôi đứng lên đi về phía cánh cửa. Nó đã được mở sẵn, và Steiner đang chờ tôi ở đó với khuôn mặt rầu rĩ.

“Này, nói gì đi chứ đồ trâng tráo, như cái cách mà cậu thường xỉa xói tớ ấy. Hãy nói cho thằng Hal này biết nó cứng đầu và ngu ngốc đến mức nào đi. Hay là dù có muốn thì cậu cũng không thể làm được hả?” Tôi cay đắng nắm lấy đôi bàn tay lạnh ngắt của cậu ta. “Nhìn mà xem, cậu đã bao giờ đáp lại đâu, chưa một lần nào trong suốt mười nam nay cả. Dĩ nhiên là thế rồi. Tớ chỉ toàn tự nói với chính mình mà thôi.”

Ngay khi tôi vừa dứt lời, hai bàn tay trắng bệch của Steiner dần biến mất dưới ánh chiều ta màu đỏ ối. Steiner vẫn không hề cười, và tôi cũng chẳng thể tỏ ra rằng mình đang vui vẻ. Chúng tôi chỉ cảm thấy nhẹ nhõm khi gánh nặng này được trút bỏ. “Cậu là tôi, và tôi cũng chính là cậu”, câu thần chú ấy đã khâu lại những vết rách ràng buộc giữa hai mảnh ghép vốn chia tách từ lâu. Một cuộc đoàn viên đong đầy nỗi chua xót.

“Cậu phải trưởng thành thôi Hal.” Steiner thì thầm, tháo cái xắc nhỏ trên đầu xuống như một lời cúi chào giã biệt. “Công việc của tôi với cương vị là một người bạn tưởng tượng đành kết thúc tại đây thôi. Cậu không thể cứ mãi trốn trong hình hài này như một con ốc sên cả đời được.”

“Tôi biết mà.” Câu nói trống rỗng lại tuôn ra lần nữa.

Tôi vẫn luôn biết mà.

Câu đâu thể mãi ở bên tôi được, đúng không?

“Cảm ơn nhiều nhé Steiner. Cậu đã chịu đựng quá đủ rồi.” Giọng tôi lạc đi giữa những từ ngữ không mong muốn nhất. “Xin lỗi vì đã tạo ra cậu chỉ để thay tôi gánh vác phần ký ức này suốt mười năm qua. Tớ đúng là một thằng hèn nhát và ích kỷ. Lúc ấy tớ chỉ ước gì mình chết đi để không phải lớn lên, và chuyện này thật khốn khiếp Steiner ạ. Tớ không thể cho phép bản thân làm việc đó, vì nếu tớ chết đi rồi thì sẽ chẳng còn ai để nhớ đến gia đình tớ cả!”

Tâm trí tôi như rách toạc trước sự thật phũ phàng của thực tại. Thật đau đớn khi nhận ra tôi vẫn đang sống, sống cho cả phần của những người đã khuất, và giờ thì chẳng nơi đâu có thể làm chỗ dựa tinh thần cho tôi được nữa. Steiner sẽ trở về với tôi cùng những nỗi đau mà tôi buộc phải chấp nhận. Giây phút dành cho lời vĩnh biệt cuối cùng đối với quá khứ đã bị trì hoàn quá lâu rồi, lâu đến mức tôi suýt thì chẳng thể nhận ra sự hiện diện của nó. Nhẹ nhàng và cô độc như cái cách mà ta chìm vào giấc ngủ.

Loạng choạng đứng lên, tôi chậm chạp tiến đến dòng suối trong vắt quấn quanh ngọn đồi như đã được định sẵn từ trước. Và nếu được hỏi rằng tôi đã nhìn thấy những gì tại nơi đấy, tôi sẽ không do dự trả lời rằng mình đã thấy một chàng trai, một người trưởng thành với đôi mắt màu sô-cô-la. Mảng nước trong veo đã biến mất khỏi đôi đồng tử sẫm màu vào khoảng khắc tôi ngẩng đầu nhìn lên vòm trời thấm đẫm một màu xám xịt, nơi hàng chục chiếc máy bay đen đúa đang ù ù kêu giữa làn khói thối rữa đến từ thành phố lân cận.

Thần chết vẫn luôn hiện diện ở kia – và những quả bom cũng đang ở thật gần.

Đây cũng là nơi tôi đặt dấu chấm hết cho dòng bút ký cuối cùng của đứa trẻ mười tuổi ấy.

*

*       *

Cuốn nhật ký đến đây là hết.

Mặc dù tôi đã cố gắng gặng hỏi ngài thị trưởng, một người bạn đáng kính của tôi, rằng liệu ngài có từng bắt gặp bất kỳ quyển nhật ký nào như thế này trong đời không, nhưng tôi chưa bao giờ nhận được câu trả lời như ý. Điều đó đồng nghĩa với việc số phận và cuộc đời của chàng trai tuổi đôi mươi ấy sau đó đã mãi mãi ẩn mình trong dòng lịch sử, hệt như cơn mộng mị của chính cậu.

Vậy đấy, kết thúc rồi, câu chuyện về một cuốn nhật ký vô danh xin được khép lại tại đây.

0

2 Comments

  • Jun Sensei Posted at September 20, 2018 at 1:09 am

    Mở đầu ấn tượng! Rất lôi cuốn!

  • Inoue Itami Posted at September 20, 2018 at 1:10 am

    Văn phong trôi chảy, miêu tả có hình ảnh. Bạn viết câu chuyện này thực sự rất tuyệt!

Leave a Reply

Site Menu