#110 Đường đến Socuro

0

Tác giả: NT

 

Giới thiệu:  Năm 732, theo Survenir Sử Lược, liên quân ba nước – Survenir, Noriet, và Granzona – lần đầu tiên có được chiến thắng thật sự: đánh bại Hắc vương của Socuro. Trận chiến giữa người dân của Đại Lục và hắc nhân cuối cùng cũng đi vào hồi kết nhờ vào công lao của William Lasaro, một binh sĩ và một vị đội trưởng tài năng. Qua đó, William được phong chức vị công tước và lãnh đạo công việc huấn luyện quân đội, chức vụ từng thuộc về vị Thánh kiếm sĩ đã hi sinh, Nathan Zachary. Từ đây, đánh dấu sự chuyển giao của thời đại khi người dân đều tin rằng họ không còn phải dựa dẫm vào các vị thần, không phải trông chờ kẻ được chọn qua các thế hệ nữa. Những năm sau là một giai thoại của lòng dũng cảm, đồng tâm, và hiệp nhất của thế giới để đánh bại mối nguy đang tìm đến từ Hắc địa. Thế nhưng, ở cuốn Sử kí Hậu Đại Thanh Trừng được viết bởi Tổng lãnh thánh đường Pretoger đời thứ hai mươi ba vào mười năm sau, lại kể một câu chuyện hoàn toàn khác, và lại giống với sử kí của Socuro. Do đó, cuốn sách đã bị cấm sau khi ngài qua đời và xem Survenir Sử Lược là tác phẩm phác họa lịch sử đúng nhất. Sự thật của quá khứ rốt cuộc bị chôn vùi cùng những kẻ trong cuộc.

 

 

Chương 1: Cái kết ô nhục.

Tôi không rõ các vị tiền nhiệm có thích công việc của mình hay không nữa.
Vì là Thánh kiếm sĩ nên hầu như ai cũng bị điều ra ở tiền quân, và phải ở ngay trước mọi binh lính để thúc đốc sĩ khí. Hay nói cách khác là quân thí đầu tiên trên chiến trận.
Tôi buông một tiếng thở dài trong cái nắng oi ả, không khí ngột ngạt của hàng vạn quân phía sau. Cuộc chiến diễn ra ngay ở khu vực biên giới ba nước: Survenir, Noriret, và Socuro. Trước mặt tôi là vùng Lusan, thánh địa của tộc hắc nhân, phía xa xa có thể là từng ngọn núi cao sừng sững tạo thành một dãy tường thành bất khả xâm phạm. Bầu trời phía đó ngùn ngụt mây đen đối lập với ánh mặt trời rọi từng tia gay gắt xuồng những khuôn mặt đầm đìa mồ hôi bên đây. Dù nhìn không rõ do khói cát nghi ngút trong gió, nhưng ai cũng hiểu rõ đằng sau nó là cả một đoàn quân đang đợi nghênh chiến một khi có tiếng tù và bên tôi cất vang.
Liên quân ba nước đang ngước nhìn vị thánh kiếm sĩ cưỡi con chiến mã màu nhung được nhà vua quê tôi, Survenir, ban cho. Nhưng thật tình tôi không phải là một kẻ miệng lưỡi uy quyền nên không thể có một bài hịch thật hay để khiến họ phấn chấn. Thành ra những ánh nhìn đó tạo ra một khung cảnh vô cùng khó xử.
Tôi ngoái đầu lại nhìn về phía sau, dùng phép để liên lạc với tòa chỉ huy ở cách đó năm mươi dặm:
Mọi thứ đã sẵn sàng! – Tôi nói.
Xin thánh kiếm sĩ đợi lệnh! – Một giọng nói đáp lại.
Tôi lại ghì cương ngựa, trong đầu vẫn đang thắc mắc làm thế nào cho quân sĩ được vững tâm và đầy dũng mãnh trước khi xung trận. Mọi người đều nhìn về phía tôi bởi lẽ tôi là người sẽ dẫn dắt họ, bảo vệ họ, và đem về chiến thắng cho họ. Thế rồi, tôi đưa cây cờ với biểu tượng liên quân bên tay phải lên cao rồi dậm mạnh xuống đất. Tôi lại tiếp tục làm như thế cho đến khi họ làm theo tôi, hồi đầu là một vài người, rồi chục người, hàng trăm người, hàng ngàn người cũng bắt nhịp như thế. Tiếng đập của binh sĩ khiến mặt đất rung lên, những bộ áo giáp va vào nhau loảng xoảng, những tiếng hò hét len lỏi từ mọi phương, tiếng gầm của những mảnh thú của tả và hữu quân, tiếng nổ như pháo từ những gậy phép của hậu quân. Gần tôi, đôi mắt họ lóe sáng và vững niềm tin, những đôi tay đều cầm chắc ngọn giáo. Sĩ khí đều đã hừng hực, cái nóng lại càng làm tăng thêm sự căng thẳng nhưng không làm suy giảm quyết tâm. Ngày hôm nay chúng tôi ở đây, tại ranh giới ba nước, chực chờ xông vão lãnh thổ của Socuro, chiến thắng ngay trên thánh địa của kẻ thù, và ca khúc khải hoàn. Ngày hôm nay, cũng như những thế hệ trước, chúng tôi sẽ không gục ngã trước Hắc Vương.
Có giọng người nói vang lên trong đầu tôi:
Xin thánh kiếm sĩ hãy bắt đầu!
Tôi gạt chiếc mặt nạ sắt xuống, tay giương cao hơn nữa tấm cờ. Tiếng tù và ngân dài vang lên, với một động tác dứt khoát, tôi chĩa đỉnh gậy về phía quân thù. Đoàn quân co chân, tiếng chân rầm rập, vó ngựa hí vang. Đằng sau tôi, từ phía hậu quân, những pháp sư bắt đầu niệm phép và phóng những quả hỏa cầu về phía đối phương. Phần tôi, tôi lao thẳng tới với chú ngựa hiếu chiến.
Đoàn quân hai phía va vào nhau với hỗn loạn, trận chiến bắt đầu với những cuộc đọ sức giữa gươm và giáo, giữa gươm và gươm, giữa lòng người với lòng người. Ở phía bên phải, những con mảnh thú được thuần phục phi nhanh, nhe nanh vuốt cào xé lấy miếng mồi của mình. Những cánh chim đại bàng bay trên không dùng con mắt phù phép của mình để theo dõi trận chiến phủ bóng xuống hỗn mang. Xung quanh tôi, lính tráng không chùn bước. Tôi với chú ngựa màu nhung vung kiếm chém tới, làm hỗn loạn đội hình địch. Trong một thoáng chốc, tôi thấy một ánh sáng lóe lên.
Con chiến mã nhanh chóng đổ gục bởi một nhát chém ở góc mù. Tôi lăn ra đất, bật dậy ngay tức khắc và tham chiến cùng với mọi người. Tôi vận dùng tất cả các kĩ năng đã được tập luyện vào thanh kiếm của mình để quật ngã kẻ thù. Một nhóm nhỏ chiến hữu nhích lại phía tôi để lập thành một đội hình tả xung hữu đột. Việc áp dụng những chiến thuật khi chiến đấu cùng thánh kiếm sĩ đang tỏ ra có tác dụng. Phần lớn bọn họ không thể dùng phép, nên với sự trợ giúp của tôi họ sẽ nhận được sự giúp đỡ từ các phép bổ trợ. Trong các trận giao tranh số đông, phép tăng cường thể lực và khả năng hồi sức luôn chiếm vai trò quan trọng hơn cả so với các phép tấn công vận dụng các yếu tố tự nhiên. Đồng thời, vì chiến thuật sẽ xoay quanh tôi nên nếu tôi tấn công, đội hình mũi tên sẽ được thành lập, nếu tôi phòng thủ và cần hồi sức, họ sẽ vây quanh tôi không để kẻ địch quấy rối.
Không như phía đoàn quân phe tôi, khoảng nửa canh giờ sau, Socuro mới sử dụng những vũ khí công phá từ xa của mình. Từ trên dãy núi, những cỗ máy bắn đá đang được nạp, bên ngoài những viên sắt gai được ám lên một phép lửa đen. Dù đã lường trước nhưng sự hỗn loạn mà Socuro gây ra là không nhỏ. Chúng tôi đang cố giữ một tuyến phòng thủ kiên cố nhưng vì đó mà tan rã. Những quả cầu đen rơi xuống gây nổ gây sát thương và chia rẻ hầu hết đội hình. Trong tiếng nổ đùng đùng, chúng tôi liên tục phải vừa đánh vừa lui để quân Socuro rơi vào tầm đạn đạo, buộc chúng phải hạn chế sử dụng máy bắn đá.
Trận chiến đã kéo dài được hơn một giờ, những binh lính quanh tôi đều được giảm thiếu tổn thương, đồng đội ngã xuống là không thể tránh khỏi nhưng sẽ không có thời gian để mà lưu tâm. Bởi lẽ hắc nhân đang cho thấy sự hung hãn hơn hẳn chúng tôi, thương vong của họ không ít nhưng cùng lúc, lại càng quyết liệt. Bọn chúng trong bộ giáp đen tuyền phóng con mắt đầy căm hận đến tôi, và tôi sẵn sàng đón nhận nó và đáp trả xứng đáng. Thanh Osivra trong tay liên tục phải làm việc, bị nhuốm trong thứ máu đỏ thẫm nhầy nhụa của hắc nhân.
Những pháp sư cứu thương bắt đầu tham chiến, họ vận những bộ đồ thon gọn để dễ dàng di chuyển, trong tay mang theo bình nước phép. Nếu ai có thể cứu chữa ngay thì sẽ sử dụng bình nước đó, nếu vết thương quá nặng sẽ vận dụng phép dịch chuyển để đem họ về. Nhìn chung mọi thứ đang rất tệ, xác chết nhiều hơn hẳn và các vị pháp sư đang phải mày mò hi vọng trong những thân thể nằm ngổn ngang giữa máu dưới đất sẽ tìm ra được hơi thở hấp hối của một ai đó.
Tình hình ngày càng mù mịt vì xung quanh khói đang quây tụ còn hơn sương mù tháng một ở Survenir. Những gì tôi có thể biết được lúc đó là chiến đấu, tiếp tục và tiếp tục, bảo toàn mạng mình và không để đồng đội hi sinh vô ích.
Bây giờ thì đã hơn ba tiếng, những tiếng leng keng va đập gần xa không rõ. Lửa không còn nghi ngút, tiếng nổ cũng vơi bớt đi, những pháp sư của hậu quân có lẽ đang nghỉ ngơi để nạp lại mana. Tầm nhìn của tôi đầy khói và bụi, tôi vẫn đứng vững nhưng những người theo tôi thì thở hồng hộc. Tôi có thể cảm thấy cổ họng họ nóng ran, tay chân rã rời, nặng trĩu dưới bộ giáp cồng kềnh. Tôi không thể chiến đấu toàn lực nếu thiếu họ. Dẫu cho được xem là người mạnh nhất của Đại lục, tôi cũng chưa bao giờ mường tượng một thân một gươm tung hoành giữa thiên hạ. Tôi tặc lưỡi, tính bỏ họ lại nghỉ ngơi để xông lên và giải quyết những điểm giao tranh thì có tiếng liên lạc tới từ đài chỉ huy:
Nathan?
Tôi nghe!
Chúng tôi đã tìm ra vị trí của Hắc vương, cậu cần đến đó ngay!
Vậy để tôi đem theo vài người để họ giúp…
Không! – Tôi bị ngắt lời và nhận ra người đang ra lệnh cho tôi không phải là liên lạc viên thông thường. – Cậu hiểu mà phải không? Hắc vương ở đó là vì trận chiến, nếu cậu rời đi đem theo vài người thì quá dễ nhận ra và hắn có thể biết được.
Tôi đắn đo:
Tôi biết! Nhưng…
Nathan! Nhiệm vụ của cậu từ đầu, với tư cách là một Thánh kiếm sĩ, đối thủ truyền kiếp của cậu là Hắc vương, đừng lí do gì nữa. Hãy đi ngay, bỏ đồng đội cậu lại! Dù có thế nào, chiến thắng chỉ có thể xảy ra hay trận chiến này kết thúc chỉ khi cậu đánh bại được hắn.
Tôi đành cắn môi, rời bỏ đội hình và tiến về hướng tây theo như chỉ dẫn của liên lạc viên. Họ nhìn tôi như tính nói điều gì nhưng rồi lại thôi. Đôi chân mệt mỏi của họ vẫn tiếp tục tiến về phía trước trong khi đôi tay cầm kiếm còn không vững. Sau cùng, tôi vẫn bỏ họ lại và đi tìm Hắc vương.
Chếch về hướng tây, mây khói càng thêm dày đặc, tôi tìm được đội du kích đang núp trong một bụi rậm, vài thành viên đu trên cây để quan sát. Bọn họ bịt mặt nên tôi không biết là ai ra ai, một người chạy ra gặp tôi:
Hắn đang ở trong đó!
Tôi nhìn theo ngón tay chỉ về một cửa hang gắn liền vào vách núi cao, xung quanh đá đen lởm chởm.
Hắn đã ở đó bao lâu rồi? – Tôi hỏi.
Có lẽ là từ khi bắt đầu, chúng tôi không rõ. – Anh ta trả lời.
Nhóm anh còn bao nhiêu Clarity?
Chúng tôi còn khoảng năm bình!
Đem ra hết cho tôi! – Tôi nói dứt khoát.
Tôi uống một mạch hết cả năm bình Clarity để hồi phục mana. Nhóm quân du kích trợn mắt nhìn tôi, không rõ tôi định làm gì. Hẳn họ nghĩ rằng sẽ theo tôi vào hang nhưng suy đi tính lại đó sẽ là một bước đi sai lầm. Trong hang là không gian hẹp, nếu tôi giao chiến ắt hẳn sẽ bị kiềm hãm bởi người theo sau, hơn nữa Hắc vương được mệnh danh là mạnh nhất Socuro nên đối đầu với hắn tốt nhất vẫn nên để mình tôi.
Các anh ở đây, nếu hơn một tiếng chưa thấy tôi ra thì hãy vào thám thính, trong lúc đó hãy cập nhập tình hình ngoài này nếu có ai tiến vào hang!
Bọn họ gật đầu và tản ra để dàn trải khu vực quan sát. Tôi cởi bỏ bộ áo giáp bạc đã nứt nẻ, quăng nó vào một gốc cây, trên mình chỉ còn một bộ áo da bảo vệ thân.
Tôi băng băng bước vào trong hang, men theo một lối đi hẹp được thắp sáng từ những ngọn đuốc nhỏ. Trần hang khá thấp và nghe đâu đấy, là tiếng tóc tách của thạch nhũ. Cũng may không còn bổ giáp nên thân pháp tôi nhanh lẹ và hạn chế tiếng động. Đi vào sâu hơn thì con đường bỗng rộng ra hiện lên một ngôi đền lớn được xây trong lòng đất.
Hai bên ngôi đền cổ có tạc hai bức tượng của hai con rồng đen đang cuộn mình bám vào thành tường, phía trên cao khắc biểu tượng của Socuro, một con hắc điểu có hình dạng giống đại bàng. Tôi thường được nghe đó là loài chim hiếm của Hắc địa, một con vật rất hiếu chiến. Tôi nhẹ nhàng bước lại gần cửa của ngôi đền, bên trong có tiếng nổ tanh tách của lửa hồng.
Tôi nghiêng đầu nhìn vào bên trong, chỉ thấy một tấm bàn tròn bằng đá trắng giữa phòng, phía trên vẽ chi chít những vòng tròn phép thuật. Dù nhìn kĩ thế nào tôi cũng không rõ Hắc vương đang tính thực thi điều gì.
Thình lình, một tiếng nói như gầm, mạnh đến mức những hòn đá nhỏ dưới đất đều phải lung lay:
Đã đến rồi thì mời Thánh kiếm sĩ vào! – Một giọng nói trịch thượng.
Tôi đẩy người bước vào trong đền. Từ một góc tối, Hắc vương bước ra với thanh kiếm nắm chắc trong tay. Hắn ta mặc một bộ giáp từ thép đen của vùng đất Socuro. Khuôn mặt ẩn sau chiếc mặt nạ trùm đầu. Thân hình hắn cao to vạm vỡ, hơn hẳn tôi một cái đầu. Từng bước chân của hắn toát vẻ quyền uy, thanh kiếm cọ xuống nền đất tóe lửa. Hắn liếc tôi từ phía bên kia ngôi đền, cười khe khẽ như khoái chí:
Cậu đến đây với từng đó trang bị? Hắc vương bị xem thường đến mức đó ư?
Đâu dám, chỉ là nhẹ nhàng như thế này, tôi mới chiến đấu hết mình được!
Ồ! Thế à! – Hắn lại cười.
Lẫn trong tiếng cười là một tiếng vút. Một giây sau tôi và hắn đã đổi vị trí cho nhau, hắn ở cửa, và tôi ở trong góc.
Chà! Nhanh đấy! – Hắn tấm tắc khen khiến tôi bực bội.
Thấy tôi không nói gì, hắn lại tiếp:
Đây có thể là trận chiến cuối cùng, và ta lại gặp một tên chẳng biết đùa! Thật éo le mà!
Nói rồi, hắn xông về phía tôi, không nhanh như lần trước, nhưng chắc chắn nguy hiểm bội lần. Tôi giơ kiếm ra đỡ. Sức hắn quá mạnh, đẩy tôi ngược về sau mất một đoạn. Chiếc mũ giáp đen áp sát vào mặt tôi, đằng sau khuôn mặt nạ, tôi nghe tiếng thì thầm xởn gai óc nhưng lại không nghe rõ thành gì.
Một động tác nhanh gọn, hắn nhảy về sau, giương thanh kiếm về phía tôi tuyên chiến:
Đánh bại kẻ cầm trong tay Thanh kiếm của Nữ vương Osivra sẽ là thành tựu lớn nhất mà ta để lại cho hậu thế!
Còn tôi, vẫn với bản mặt lầm lì, cũng giương kiếm, nắm chặt chuôi, tiến về phía đối thủ tiền định của mình.
Chiếc bàn tròn trở thành sàn đấu của chúng tôi, những bụi vẽ vòng phép thuật bay tứ tung lên trong không khí.
Trong suốt lịch sử của Đại Lục, đây có lẽ là trận chiến đáng được xem là sử thi nhất. Năm xưa, chưa có một Thánh kiếm sĩ nào thực sự giao chiến một đối một với các Hắc vương tiền nhiệm. Năm nay, tôi đang đương đầu một mình với kẻ đứng đầu Socuro.
Quả không hổ danh là kẻ có kiếm pháp không thua một kì thủ nào của Survenir hay Noriret. Đường kiếm của hắn mau lẹ mặc dù thanh kiếm to bản trông khá cồng kềnh. Tôi và hắn đọ gươm với nhau như tìm được đối thủ xứng tầm. “Xứng tầm” không phải là dành cho tôi, mà phải dành cho hắn. Sức mạnh, uy lực, kĩ năng của hắn thuần thục tới từng động tác di chuyển, vung kiếm, né nhảy. Còn tôi, nếu so về trình độ, có lẽ vẫn còn thua hắn một bậc. Nhưng sư phụ cũng từng nói, trận đánh càng khó khăn bao nhiêu, tôi càng tỏ rõ khả năng của mình bấy nhiêu.
Với một đối thủ không chỉ mạnh mà còn đầy mưu mẹo, đầu óc tôi là hoàn toàn phù hợp. Giữ một cái đầu lạnh, tôi có thể dự đoán, thấy rõ được đường đi của lưỡi kiếm, động tác chân manh nha giơ lên đá. Thân thủ của tôi mau lẹ, nên ngay khi vừa trông thấy tín hiệu, cơ thể đã lập tức phản đòn. Kiếm va vào nhau vang lên chan chát khuynh động cả trần hang.
Tốc độ của trận đánh ngày càng được đầy nhanh. Nhìn sơ qua, người ta có lẽ sẽ nói đây là một trận đấu kiếm thông thường, nhưng sẽ không ai hiểu rõ như hai kẻ trong cuộc. Từng lực kiếm giáng xuống, là từng cú đánh chí mạng. Nếu không vận phép thuật và khí thông, sẽ không dùng đủ lực để tung ra một đòn phản. Trận đánh được quyết định trong từng khoảnh khắc, ngay lúc nhận ra đối phương tung đòn thế nào cũng chính là lúc kiếm giương lên cùng với một đòn phép đủ mạnh để bật lại.
Kiếm của tôi và hắn đôi lúc chém ra không trung khiến những trụ cột trong ngôi đền vỡ nát. Đòn đánh của hắn còn uy lực hơn, chém mạnh xuống bàn khiến cả vùng đất rung động. Tôi không rõ hắn thế nào nhưng tôi chắc chắn đang cười. Một đối thủ xứng đáng để từ bỏ cả mạng sống mà đi tìm, để thử thách, thua cũng được, thắng cũng được. Chỉ là trong một lúc, tôi tưởng tượng ra cảnh, hắn vi hành qua Survenir, tình cờ gặp tôi và cả hai cũng tỉ thí. Trong khung cảnh đó, tôi và hắn có lẽ sẽ thành tri kỉ. Còn tại nơi này, tôi và hắn buộc một kẻ phải nằm lại trong đống đổ nát.
Hắc vương và Thánh kiếm sĩ như hai vũ công đã tìm được đúng sàn nhảy, đúng bài nhạc để trình diễn tác phẩm hay nhất của mình. Lưỡi kiếm sáng loáng lướt qua, tôi và hắn từng nhịp từng nhịp như hòa vào giây phút nguy nga nhất. Tiếng kiếm va vào nhau như những đoạn cao trào, tiếng ken két tóe lửa như những khúc căng thẳng, tiếng nổ của phép và lửa như tiếng trống dồn dập. Từng bước chân bước tới hay lùi lại, từng động tác lanh lẹ né tránh đều lả lướt theo một gia điệu đê mê và hứng khởi. Tôi và hắn, có lẽ chỉ muốn trận chiến này đừng bao giờ dứt.
Hắn lùi về sau, nghe tiếng khàn khàn bật lên đằng sau khuôn mặt nạ như là đang cười. Tay hắn co về, tụ một quả cầu đen trong tay. Hắn sẽ bắn tia năng lượng bóng tối về tôi. Đương nhiên tôi sẽ không né. Khi hắn tung chiêu, tôi tập trung mana vào thanh Osivra và chém đứt đôi tia năng lượng của hắn thành hai phần, bắn xuyên lên trần hang, xuyên ra bên ngoài vách núi. Tôi cũng chẳng kém cạnh, tụ năng lượng vào đỉnh thanh kiếm và đáp trả hắn với chiêu thức của mình. Hắn đặt chân đứng tấn, dựng thanh kiếm thẳng để luồng ánh sáng đi xuyên qua mà không hề hấn gì. Tôi lại cười, chân nhịp bước như mỗi lúc sắp đánh nhau với đồng đội ở trại lính. Vút, tôi và hắn chạm kiếm vào nhau, xoẹt, chan chát, vụt, tiếng nổ đùng đoàng vọng vào bên tai.
Trận chiến đã kéo dài bao lâu, có lẽ cả hai cũng chẳng rõ. Tôi và hắn dần chìm trong cảm giác mơ hồ. Sư phụ có lần chỉ ra một điều ngài đã thấy, giao chiến quá lâu sẽ khiến bản thân tự hiểu về đối phương. Và giờ, cả hai kẻ được xem là mạnh nhất đang cảm thấy mệt nhoài. Nhưng chúng tôi không dừng lại, đầu óc dù mụ mẫm đi nhưng cơ thể vẫn tiếp tục di chuyển. Ngay lúc tôi nhảy lên để vung một đường kiếm thật mạnh cũng là lúc tôi nhận ra sai lầm của mình. Hắn lướt tới, dùng thanh kiếm của mình chém ngang qua chân tôi, tôi dùng phép qua bàn tay đẩy mình về hướng bên kia, xa khỏi Hắc vương. Khi tôi đáp xuống, tôi thấy cẳng chân phải của mình lăn bình bịch ngay trước mắt.
Tôi lại không thấy đau, tôi trông Hắc vương đang đứng bất động. Tôi nghiến răng, dùng hết sức lực còn lại, dồn lực về chân trái để làm điểm tựa, tôi lại nhảy tới. Giương kiếm lên, những nghĩ hắn sẽ tìm cách phản đòn, nhưng Hắc vương vẫn trơ người ra đó. Và rồi, thanh kiếm tôi đã đâm lút cán xuyên qua tấm lưng rộng của hắn. Tôi rơi xuống khỏi thanh kiếm, thở hổn hển, dần cảm nhận được cơn đau rát đang lan ra khắp cơ thể. Kết thúc rồi ư?
Hắn ta gầm lên, mãnh liệt như lúc tôi nghe ngoài cửa. Hắc vương nhìn tôi và nói:
Cuối cùng, cũng đã có người chiến thắng! – Hắn chậm rãi. – Ta là kẻ bại!
Rồi hắn dang tay, một lực cực mạnh phát ra đẩy tôi bay thẳng vào góc tường. Lửa đen từ đâu dần bao quanh hắn. Hắc vương gục gặc la lên đau đớn. Chưa bao giờ tôi nghe một tiếng hét thảm thiết đến thế, khàn đục và đứt quãng. Hắn ho sặc sụa, lửa ngày càng lớn, hâm nóng ngôi đền như dung nham. Trong khung cảnh mờ mờ trước mắt, tôi thấy kẻ vĩ đại nhất mà mình từng gặp bị nuốt chửng bởi ngọn lửa đen hung hãn. Trong đầu tự hỏi sao chiến thắng của mình lại quá dễ dàng, và sao hắn, kẻ quyền uy nhất Hắc địa, lại phải chịu sự trừng phạt ghê rợn đó trước lúc chết?
Tôi gục đầu, ngả dần vào cơn bất tỉnh.
Không rõ mọi chuyện sau đó đã xảy ra thế nào và diễn biến trận chiến ra sao. Chỉ nhớ mỗi khi tôi tìm lại được ý thức thì cơ thể tôi bỏng rát như máu sôi sùng sục bên trong. Sau đó, tôi lại thiếp đi. Tỉnh lại lần nào cũng thấy mệt mỏi và đau đớn như vậy. Trong những lần tỉnh táo đủ lâu, tôi trông thấy mình đang nằm trong một chiếc xe ngựa, xung quanh trải rơm sưởi ấm và vài pháp sư vây quanh tôi. Rồi tôi thấy ánh nắng và thành Essenlacia qua tấm rèm cửa sổ. Và sau đấy, phải mất rất lâu, tôi mới tỉnh dậy tại một căn phòng nhỏ trong lâu đài Reviviry.
Tôi ngồi dậy, thấy miệng mình khô khốc. Tôi với lấy ly nước để trên tủ đầu giường, tu một mạch hết cả ly. Bỗng cảm thấy một cảm giác kì lạ, tôi hất chăn ra, để lộ đôi chân giờ đây đã khuyết tật. Chân phải tôi đã không còn ở đó nữa, nhưng tại sao? Đáng nhẽ ra các pháp sư đã phải chữa trị cho tôi rồi chứ. Hình ảnh của Hắc vương vụt qua mắt tôi, sững sờ nghiệm ra, kẻ mạnh nhất cũng phải để lại một vết thương không tầm thường chứ nhỉ? Nghiêng đầu nhìn ra cửa sổ, tôi trông thấy mọi người đang trẩy hội.
Từ đỉnh của lâu đài nguy nga Riviviry, những dài ruy băng đầy màu sắc giăng đầy cả thủ đô Essenlacia. Dưới đường, người người nườm nượp nhảy theo điệu hát, tiếng cười ngân vang lên tận lầu cao. Trong từng ngóc ngách cũng tràn đầy nhựa sống. Lâu lâu lại nghe tiếng nổ của pháo hoa đầy huyên náo. Những binh sĩ thì nâng cao ly bia đầy bọt trong tay, vai kề vai ca khúc nhạc dân ca để hòa cùng không khí, để thấy cuộc sống giờ đây đã bình yên. Trước lâu đài, có một khoảng sân rộng dựng lên một rạp hát, nhà vua ngồi trên ghế cao xa xa người ta có thể thấy đang cụng ly cùng các vị lãnh chúa. Nền trời trong xanh như cũng cùng chung nhịp đập vui tươi của của thủ đô.
Tôi nôn nóng được gia nhập cùng họ. Nghĩ đến cảnh cả vương quốc nhìn tôi như vị anh hùng dân tộc, người đã một mình đánh bại Hắc vương của Socuro khiến tôi không thể không cảm thấy tự hào và phấn khởi. Tôi ngồi dậy hỏi to:
Có ai ngoài đó không?
Từ cửa không phát ra một lời đáp. Cũng phải, không thể để ai đó đi canh một tên bệnh tật trong ngày vui thế này được. Tôi mon men lại gần tường, đẩy người đứng lên bằng chân trái, dựa theo tường mà đi ra cửa. Chân tôi hãy còn yếu nhưng lết đi từng bước nhảy thì vẫn được. Mà giờ tôi mới để ý, sao căn phòng này lại đơn sơ, cũ kỹ, mốc meo đến thế!
Tôi dùng lực đẩy cửa nhưng nhận ra nó đã bị khóa ngoài. Chuyện quái quỷ gì vậy?
Dù chưa hồi phục hoàn toàn, tôi vận lực đấm thủng lỗ khóa và đi ra. Những tưởng không có ai ngoài này nhưng có hẳn hai lính gác đang đứng sát bên cửa, khuôn mặt lo lắng.
Tại sao ta hỏi mà không trả lời? – Tôi to tiếng.
Xin ngài thứ tội! – Một tên rón rén nói. – Đây là lệnh giao cho chúng tôi nên…
Lệnh lớn hơn câu hỏi của ta? – Tôi trừng mắt.
Dạ, nhưng… – Hắn ấp úng. – Chúng tôi không thể không tuân lệnh được ạ!
Tôi mặc kệ bọn họ, ra lệnh tìm cho tôi một cây gậy để tôi chống đi. Lúc rời đi, tôi nghe bọn họ thì thầm:
Tên phế vật đó thì làm được gì chứ, rõ chỉ được cái phá bĩnh người ta thôi!
Tôi bỏ ngoài tai, cho rằng đó chỉ là những điều ganh ghét và tận dụng lúc tôi sức cùng lực kiệt thế này mà dè bỉu.
Mất đi một chân quả thật chẳng dễ chịu gì, đặc biệt lại là chân phải và phải bước xuống cầu thang xoắn. Tôi dùng chút phép của gió để giúp bản thân nhẹ hơn, giảm bớt gánh nặng lên chân phải. Chẳng có vẻ gì là một anh hùng cả, vì lúc này đây nên có ai đó dìu mình xuống thì đúng hơn.
Đi mãi trong không gian hẹp, tôi cũng ra đường khỏi tòa tháp. Mặt trời rọi rõ trên cao, có thể nhìn thấy lâu đài Riviviry về phía đông, tiếng người rộn ràng bên đó vang đến tận bên đây. Trước mặt tôi là một khoảng sân tập dành cho những người mới nhập ngũ, hiện tại đang được bày bàn ghế để mở tiệc, mùi thịt heo nướng tỏa nồng trong không khí khiến bụng tôi phải cồn cào. Những người lính đang ăn nhác trông thấy tôi liền lườm tôi bằng một ánh mắt khinh bỉ. Tay tôi chống vào vách tường, thắc mắc tại sao sự hiện diện của mình lại phá hoại tâm trạng vui tươi của họ. Tôi vừa tính mở lời chào thân thiện thì một tên người cao to đã đập mạnh ly bia của hắn trong tay xuống bàn vang lên một tiếng cốp rất lớn. Mọi người đều im lặng, người cúi đầu không nói gì, người nhìn tôi như một kẻ tội đồ. Tôi bất giác nhìn lại tòa tháp nơi mình vừa bước ra, đây chính là nơi giam giữ những kẻ đào ngũ. Trong giây phút đó, tôi đã hiểu mình đã mắc phải một tình huống éo le mà bản thân còn chưa hiểu rõ.
Từ phía cổng vào, vị lãnh chúa nơi tôi được sinh ra xuất hiện. Anh ta là một người khá trẻ nhưng hôm nay, một ngày đại hỉ lại đem trên mình khuôn mặt u ám, trái ngược hoàn toàn với bộ áo chùng màu trắng viền vàng lộng lẫy đang mặc trên người. Anh ta lướt qua đám đông tiến về phía tôi, tôi chưa kịp nói gì thì đã kéo tôi ngược lại vào trong, vừa dìu tôi lên thang vừa nói:
Chúng ta sẽ nói chuyện trong phòng, được chứ?
Edward, rốt cuộc là có chuyện gì xảy ra thế?
Tớ sẽ kể cho cậu nghe, tốt nhất là không nên có ai nghe lén chúng ta cả!
Tôi trở lại căn phòng ủ dột ấy, đóng cửa lại và ếm một bùa ngăn chặn tiếng nói vang ra ngoài.
Edward trông vào cái lỗ của cánh cửa liền nói:
Mới tỉnh dậy mà cậu cũng đã phá hoại rồi đấy!
Cậu ta cố gắng cười nhưng không thể nào tự nhiên được.
Bọn lính canh không nghe lời tớ, tớ tỉnh dậy, cần ai đó giúp nhưng khi gặp họ thì phát hiện ra lời nói của mình chẳng còn trọng lượng như trước!
Edward lắc đầu:
Thì phải như vậy thôi sau bao sự kiện đàm tếu về cậu!
Mặt tôi đanh lại, chăm chăm nhìn Edward đang ngồi bên chiếc bàn cũ mục:
Bọn họ nói gì về tớ!
Cậu ta vẫn chưa nói gì, khuôn mặt lo lắng lúng túng, rồi bất chợt nhìn tôi với đôi mắt thất vọng:
Tớ cũng cần nghe từ cậu vài điều nữa! Những gì tớ kể sau đây, tớ cũng cần một lời giải thích!
Mọi thứ mà cậu muốn! Nào, nhanh lên!
Edward nghiêm nghị:
Cậu đã ngất đi trong lúc giao chiến với Hắc vương và ngất đi, đúng chứ?
Đúng! Tớ đã ngất đi sau khi đâm xuyên qua ngực hắn. Lúc đó, tớ đã thắng! – Những hình ảnh xúc động liền ùa về.
Cậu ta nghe xong lại càng ngơ ngác hơn:
Đó không phải là những gì tớ được nghe và báo cáo!
Tôi cau mày:
Thế cậu đã biết được gì?
Rằng cậu đã ngất đi và để William chiến đấu với Hắc vương!
Tôi tròn xoe mắt:
Cái gì cơ? Có lầm không đấy? William Lasaro, trưởng trung đội ba?
Đúng, chính hắn! Khi mọi người tìm đến ngôi đền cổ đó, William là người đang cầm trong tay thanh Osivra cạnh bên xác chết cháy đen của Hắc vương.
Và mọi người nghĩ rằng Hắc vương bại là dưới tay hắn, cái tên tong teo nhát cáy đó?
Edward chỉ lặng lẽ gật đầu. Tôi còn không tin được những gì mình được nghe:
Cái quái gì thế? – Tôi cao giọng. – Mọi người thật sự nghĩ rằng hắn có đủ khả năng để đánh với Hắc vương ư?
Với những gì được viết trong báo cáo thì hoàn toàn có thể tin được.
Tôi càng thêm giận dữ, giọng lệch đi:
Thế cái bản báo cáo của thằng khốn nạn ấy nói gì?
Bình tĩnh đi, Nathan! Nếu như mọi chuyện đúng như cậu nói thì chúng ta vẫn có thể sửa lại mà! – Edward khựng lại một lúc rồi tiếp tục. – Hắn khai rằng khi hắn cùng đồng đội đến được đó thì cậu đã ngất đi bên cạnh thánh kiếm, còn Hắc vương thì đang loay hoay với đống vòng tròn phép thuật trên bàn đá. Hắn cùng đồng đội đã cố gắng để tiêu diệt Hắc vương, tấn công hắn khi hắn không để ý. Dù vậy thì cuối cùng chỉ còn mình hắn sống sót.
Thật không thể tin được, và nhà vua tin hắn?
Không, ngài ấy không tin nhưng quân lính tin!
Edward nhìn tôi dò xét. Tôi chỉ có thể phun ra thêm một lời rủa:
Khỉ gió!
Quân lính tin vì cậu đã bỏ họ trên chiến trường! – Cậu ta nói thêm.
Lần này thì tôi sốc thật sự, việc chứng minh trận đại chiến với Hắc vương là trong tầm tay nhưng việc mất niềm tin của mọi người khiến cổ tôi nghẹn lại nơi cuống họng:
Thật sao? – Tôi thì thào.
Họ đã rất bất an khi cậu rời đi mà không nói điều gì. Quân du kích đợi cậu cũng đã sẵn sàng để hỗ trợ câu nhưng cậu lại vào đó một mình. Như thể…
Như thể một kẻ tự mãn dành hết công lao về mình. – Tôi tiếp lời. – Phải không?
Đúng là như thế! – Edward chua chát nói. – Tớ không tin! Nhưng họ không nghe tớ nói, các đội trưởng và tướng lĩnh những nhánh khác. Nếu lúc đó chúng ta còn chung với liên quân ba nước thì đã có thể nói gì đó, nhưng trước tớ là những người dân của Survenir đang mất mát và giận dữ. Và thế, mọi mũi rìu đều chĩa về phía cậu, Nathan ạ!
Tôi lặng người đi, không biết nói gì hơn. Một lúc lâu sau, tôi lên tiếng:
Trận chiến rất khó khăn đấy, Edward. Kẻ mà chúng ta luôn e dè và sợ hãi, hắn rất mạnh. Mà người ta lại cho rằng hắn bại dưới một kẻ tiểu nhân bỉ ổi ư? Tớ thật sự không hiểu nỗi. Chỉ cần nghe thôi thì ai mà tin chứ!
Người ta vẫn thích câu chuyện về một kẻ dưới chướng tạo nên kì tích mà, cậu biết đấy!
Và thế họ chấp nhận và tin vào câu chuyện của William Lasaro?
Edward lại lầm lũi gật đầu khiến tôi càng thêm khó chịu.
Mặc dù làm thế này không vui vẻ gì nhưng cậu hãy mặc một bộ áo choàng và đi dự lễ hội đi, rồi cậu sẽ rõ.
Làm thế thì ích gì chứ?
Tôi nhìn Edward và có thể thấy sự nghiêm túc và mệt mỏi của cậu ta.
Tớ luôn tin cậu, Nathan ạ! Cậu đi một vòng đi, tối nay tớ sẽ tới và đem theo một vài món. Cậu biết đấy, dù sao chúng ta cũng phải ăn mừng chứ! – Cậu ta cười tươi. – Cậu là chiến sĩ, là anh hùng của Đại lục mà.
Nghe cậu ta nói thế, tôi cũng mỉm cười. Trong lúc này, có một người tin tưởng là điều mà tôi cần nhất.
Edward rời đi vội vã. Tôi tìm một bộ áo choàng cũ kĩ và bốc mùi mốc trong ngăn tủ áo của căn phòng. Tôi dùng lực bẻ gãy thanh chắn cửa sổ, nhảy lên thành khung và thả mình rơi xuống, đáp đất trên một chân không vững, lảo đảo. Phía sau của tòa tháp là một con ngõ hẹp dẫn ra phố chính.
Tôi chống gậy đi ra và hòa vào đám đông đang rộn ràng ngược xuôi, nhà nhà người người đều tươi cười. Họ ăn uống mừng vui nhưng trong đám đông vẫn có những đôi mắt đượm buồn. Dù cho chiến thắng là vinh quang, mất đi người thân đối với họ vẫn rất lớn.
Tôi sực nhớ là mình không đem theo tiền. Nhìn lại mình một lượt, tôi nhận ra bản thân trông chẳng khác gì một tên ăn mày giữa phố cả. Đang không biết làm thế nào thì một ông chủ tiệm quán bia, khuôn mặt to bạnh và râu ria vỗ vai tôi, tươi cười nói:
Hôm nay quán đãi bia đấy, không từ một ai đâu, cậu vào chung vui đi! – Tôi ngu ngơ gật đầu đi theo chủ quán.
Hè hè, bia của ta dù không sánh được bia của lão Richard, nhưng phải là ngon nhất từ đầu phố đổ lại đây. Nào, nào! Cứ tự nhiên.
Tôi cảm ơn và ông ta đem ra cho tôi một cốc bia rất to và sủi bọt thơm lừng. Tôi vừa nhấp môi vừa bình luận:
Chà! Rất nồng và có vị ngọt ngọt đầu lưỡi ấy ạ!
Ông chủ cười ha hả, vỗ vai tôi thêm một phát đau điếng, chỉ cho tôi một chỗ ngồi còn trống trong khu sân đã chật ních khách. Tôi vừa ngồi xuống, ông ấy cũng ngồi ngay bên cạnh. Tôi ngước nhìn tấm bảng hiệu có hình cốc bia khắc lúa mạch mang tên Urder. Có lẽ đó là họ của ông ấy.
Các anh thấy tôi nói có đúng không? – Giọng ông chủ to như phát ra từ một cái loa. – Chúng ta cần gì một vị Thánh kiếm sĩ chứ?
Các vị khách ngồi quanh cũng gật đầu và lại bảo:
Ông nói chuyện này nãy giờ rồi đấy! – Bọn họ càm ràm.
Tôi thì lại nghiêng đầu hỏi ông ta:
Tại sao lại thế ạ? Cháu tưởng Thánh kiếm sĩ phải là quan trọng lắm chứ?
Tôi giả vờ hỏi thế. Ông chủ của quán bia Urder liền lắc đầu nguầy nguậy và bảo:
Cậu chưa biết à? Câu chuyện đang được lan ra từ đầu phố cuối ngõ, người người ai cũng dần thần tượng vị anh hùng mới, William Lasaro. Cậu chắc là khổ quá nên chẳng để ý chuyện đang xảy ra ngoài kia đâu. Thật tội nghiệp!
Nói rồi ông ta cụng cốc bia với tôi, tu một hơi hết sạch. Tôi vẫn loay hoay tỏ ý không hiểu.
Số người còn lại trong bàn lại lắc đầu, cười cười bảo:
Chà, vì cậu không biết nên đã khiến gã Urder này có hứng để kể rồi đấy! Được rồi, Urder, nói cho thằng nhóc hiểu ông đang nói gì đi!
Urder cười to, khiến cho ria mép của ông ta cử động để lộ hàm răng vàng ố. Lão choàng tay qua vai tôi, hơi thở khà vào mũi nống nặc mùi men:
Cậu hiểu mà, với việc William đánh bại được kẻ mạnh nhất mà bọn hắc nhân Socuro tự hào, chúng ta đã chứng minh được chúng ta chẳng cần sự hỗ trợ của thần thánh cũng sống khỏe!
Ý ông là không cần Pretoger ư?
Ừ, chính họ! – Ông ta giơ tay ra hiệu cho phục vụ đem lên thêm vài cốc bia. – Đừng hiểu lầm là ta có gì bất kính. Chỉ là như thế này, chúng ta chẳng cần phải dựa dẫm vào ai cả. Chiến binh được họ lựa chọn cũng chỉ ngang cơ một kẻ được con người huấn luyện. Thế thì có gì đặc biệt, phải không?
Ông ta cười ha hả cùng đám bạn, nốc cạn thêm một cốc bia.
Tôi cũng nhe miệng cười trừ, nhấm nháp cho có. Rồi lại hỏi:
Thế nghĩa là ông thích William hơn Thánh kiếm sĩ ạ?
Hẳn là thế rồi! Không như tên Thánh kiếm sĩ bất tài kia. – Nghe tới đây khiến tôi nhồn nhột hết cả người. – William lớn lên và nổ lực bởi chính bản thân cậu ta, còn tên kia lại được chọn và có sự phù hộ từ các đấng tối cao. Nhưng cuối cùng thì thế nào, cậu ta đã thua và để một tên không có một sự trợ giúp nào dọn dẹp giùm. Hừ, ta là ta thích tên William này lắm!
Lại thêm một cốc bia hết trơn trong một nốt nhạc.
Tôi tiếp tục hỏi:
Nếu vậy thì chẳng cần Thánh kiếm sĩ nữa nhỉ?
Đúng, đúng! – Ông ta càng hào hứng. – Dẹp luôn công cuộc đi tìm một tên như thế qua các đời đi. Chỉ cần huấn luyện, học hỏi đủ tốt để đào tạo ra một William nữa thì Đại lục này cũng sẽ được yên bình. Suy cho cùng, Thánh kiếm sĩ cũng chỉ là cái tên hảo mà thôi. Phải không, các ông?
Bạn nhậu cũng gật gù tán thành, cười ra vẻ thích thú.
Các ông cũng nghĩ thế ạ? – Tôi hỏi họ.
Ừm, hẳn rồi! Tại sao lại phải trân trọng, dựng tượng rồi đền thờ về Thánh kiếm sĩ khi một người như thế cũng chẳng mần ăn được gì.
Tôi cũng nghĩ thế đấy. – Một người đàn ông khác trong bàn lên tiếng. – Thánh kiếm đã được ban bao nhiêu đời nhưng chẳng đời nào đánh được Hắc vương. Ở đời thứ bảy này, một tên nhóc ranh cầm kiếm ra trận, thua và để một người bình thường cứu giúp. Thật chẳng ra thể thống gì.
Hắn còn đáng bị đem ra để bị bôi nhọ nữa mới đúng! – Một người khác nói gay gắt.
Ông ta có vẻ mặt đau khổ, những đường máu đỏ kẻ dài từ trong khóe mắt. Tôi nhìn ông ấy, gặng hỏi:
Tại sao thế ạ?
Vì hắn dám bỏ lại con trai ta giữa chiến trường để giành lấy vinh quang về mình.
Tôi có thể thấy ông ta muốn khóc nhưng không thể, nỗi đau khổ đã rút cạn tâm hồn ông ấy.
Hắn có thể đem con trai ta theo, cậu nhóc là một tên dùng kiếm cực tốt, nó sẽ hữu ích. Nếu cho chết, cũng là chết dưới tay Hắc vương và ta sẽ tự hào về nó khôn chừng. – Ông ta đay nghiến. – Thế mà hắn làm gì, hắn rời bỏ đồng đội của mình, hắn có thể đã giảm thiểu thương tổn nếu như hắn thông báo cho mọi người vị trí của Hắc vương. Tên khốn ích kỷ đó đã làm con ta phải chết.
Thật vô lý! Kẻ ích kỷ ở đây là ông mới đúng ấy. Tôi thầm nghĩ nhưng không thốt ra.
Ông ta nói tiếp:
Con ta hâm mộ hắn lắm, cuối cùng lại chết trong tức tưởi như thế. – Giọng ông ta ngày càng trầm đục. – Ta đâu cần phải đánh bại Hắc vương, Thánh kiếm sĩ có thể ở lại và sát cánh với bọn họ như các vị tiền nhiệm cơ mà, như vậy con ta đã sống, đã về và cưới con bé Liz làm vợ. Hắn đáng đời để bị thương như thế. Chưa bao giờ ta hận ai như hắn!
Đám bạn nhậu xung quanh liền vỗ vai ông ta an ủi. Trong bàn này, có lẽ chỉ mình ông ấy là có người con ra đi. Nhưng ở những bàn khác trong quán, hay ở trong những căn nhà quanh đây, con cháu họ đã phải nằm xuống. Họ đau buồn và giận dữ, và họ cần một ai đó để đổ tội. Trùng hợp làm sao, tình trạng của tôi lại rất phù hợp. Những câu chuyện được truyền tai nhau, tai tiếng của tôi ngày một lớn, và nỗi căm phẫn chồng chất rốt cuộc cùng tìm được nơi trút xuống.
Tôi cắn môi tức tối nhưng cũng thông cảm cho họ.
Urder đập đập vai tôi, nói:
Nào uống hết đi chứ! Đừng để bạn ta làm phá vỡ niềm vui lúc này. Trong những khổ đau và thất vọng, William đã đem lại hi vọng cho tương lai của mọi người. Đó mới là quan trọng.
Một cốc bia lại chỉ còn bọt dính mép. Lời ông chủ Urder dường như đã khơi dậy điều gì trong tôi. Vậy là tôi đã hiểu cách nhìn của mọi người về vấn đề này và họ sẽ cần một điều gì đó để nhìn về phía trước. William Lasaro. Cậu ta, hơn những vị Thánh kiếm sĩ, mới là hi vọng lớn lao nhất mà con người hằng mong chờ.
Tôi ở lại và cùng uống thêm bia với họ. Người đàn ông với đứa con đã mất đó cũng phấn chấn hơn và hòa cùng những bài ca. Tôi cũng cảm thấy chạnh lòng, vì rằng cậu con trai đó đã theo tôi, mà trong tâm trí tôi chẳng còn lưu lại gì những ai đã sát cánh bên cạnh. Có lẽ vị trí Thánh kiếm sĩ đã khiến tôi hời hợt và tự tin vào bản thân mình quá đáng đến mức chỉ thấy mình là quan trọng. Trời sập tối, tiếng huyên náo giảm dần cũng là lúc tôi nhận ra mình cần phải làm gì tiếp theo.
Tôi quay lại căn phòng trong tòa tháp, ngồi đợi Edward quay lại vừa sẵn tiện soạn một bức thư.
Edward tới lúc mọi tiếng ồn gần như đã mất, không gian im ắng và những đám mây kéo đến che khuất ánh trăng.
Cậu ấy đem đến một chum rượu, một con gà quay nguyên con. Đặt mọi thứ lên bàn, tôi chưa kịp nói gì thì đã phân bua:
Tại vì lãnh chúa mà lại lén lút mang đồ ăn đi thì có hơi kì cục, cậu biết đấy!
Đến mức không thể sai người hầu giúp mình à, tớ bị ghét đến cái mức đó rồi ư?
Cũng không hẳn, chỉ là trước khi giải quyết mọi việc, tớ cần chứng minh mình công tư phân minh nên cần phải giữ khoảng cách và tin đồn với cậu!
Tôi gãi đầu, thản nhiên nói:
Cậu không cần phải cố gắng thêm như thế nữa đâu!
Cậu đang nói gì thế, Nathan? Chỉ giai đoạn này thôi, mọi việc rồi sẽ ổn!
Cậu ngồi xuống đi Ed, tớ có yêu cầu cho cậu đây!
Edward lo lắng nhìn tôi, cũng im lặng nghe theo tôi.
Tôi rót rượu ra cho bạn và mình rồi nói:
Ngày mai cậu hãy cho một thông cáo rằng tớ đã chết!
Cái gì cơ? – Cậu ấy đặt ly rượu lại bàn.
À thì cứ bảo rằng vì vết thương quá nặng nên tớ đã không qua khỏi.
Ai bảo cậu giải thích tại sao chết nhưng vì sao cậu lại…
Tôi chặn cậu ấy lại và đưa cho cậu ấy bức thư mà tôi đã viết:
Hãy giao bức thư này cho bệ hạ và ngài ấy sẽ hiểu.
Edward nhận lá thư, vần bực bội hỏi tôi:
Cậu đang nghĩ quẩn cái gì vậy hả, Nathan?
Rồi mọi thứ tớ yêu cầu đã xong, bây giờ tớ sẽ giải thích mọi thứ cho cậu.
Tôi đưa ly rượu lên uống, bẻ một bên đùi gà, vừa ăn vừa nói:
Tớ chỉ muốn nghỉ ngơi thôi, cậu biết đấy! Giờ cái chân tớ đã què rồi. – Tôi giơ chân ra để đệm vào. – Cũng không còn hữu dụng gì nữa, chỉ là tên hữu danh vô thực thôi.
Nhưng…
Để tớ nói hết đã nào! Tớ cũng không cần phải chứng mình gì cả, những gì cần tớ đã viết trong thư và mong bệ hạ hiểu! Về phần mình, cậu hãy giúp tớ tìm một ngôi nhà nhỏ ở làng Ladea là được, tớ sẽ tự xoay sở.
Cậu…! Cậu nghiêm túc đấy hả?
Tôi ngoạm một miếng thật to của đùi gà, mùi hương thơm nồng của tỏi và hành phi sộc thẳng vào mũi sảng khoái.
Tớ nghiêm túc đấy! Mà món này ngon ghê gớm!
Dù thế nào, cậu cũng không thể để tên William nhận hết mọi công trạng về mình như thế được.
Tại sao không?
Này Nathan, cậu có nghe mình đang nói gì không? Thật chẳng giống cậu chút nào cả!
Tôi kể cho Edward những gì mình được nghe hồi chiều. Nghe xong, cậu ấy trầm ngâm không biết nói gì hơn. Cậu ấy cũng biết vì chính Edward đã khuyên tôi đi nghe đám đông nói gì. Trong một cách nghĩ khác, tôi nghĩ cậu ấy muốn tôi tôn vinh William như một động lực sắp tới cho quân đội. Tôi chỉ nói tiếp:
Mọi người cần một hi vọng mới. Tớ có lẽ đã làm ô danh tước hiệu Thánh kiếm sĩ nhưng mọi việc như thế này có khi lại tốt. Hắc vương đã bị đánh bại, thanh kiếm quan trọng của hắn cũng đã bị lấy đi. Socuro đã thua hoàn toàn, không có thanh kiếm ấy, vị vua tiếp theo sẽ không thể lên ngôi. Tớ ở đây cũng chẳng còn nhiệm vụ gì. – Tôi nhìn ra cửa sổ mà mình đã phá. – Mọi người cần có một niềm tin khác để thấy huấn luyện binh sĩ sẽ đem đến một anh hùng chứ không phải được sắp đặt bởi số phận. Tớ cũng sẽ thích như thế hơn. Ngày trước, tớ cũng không hề thích việc được chọn là Thánh kiếm sĩ tí nào cả.
Con gà đã bị tôi chén sạch từ lúc nào, để lại trên bàn chỉ còn hai ly rượu nhỏ bé.
Mà nói thì nói cao xa, vĩ đại vậy thôi chứ thật ra tớ mệt quá rồi. Một ngày nào đó khi mọi người cảm thấy an toàn, tự tin vào quốc gia, tớ sẽ lại minh oan cho bản thân. Thế nên, giúp tớ nhé, Edward?
Tớ từ chối được chắc? – Cậu ta lườm tôi. – Nào, uống rượu đi! Rồi kể tớ nghe về trận chiến của cậu với Hắc vương để tớ có chuyện mà tâu với bệ hạ!
Ừ, mà này, tớ lấy lại thanh Osivra được không nhỉ?
Edward nhìn tôi vẻ ranh mãnh:
Hừ, cậu nghĩ tớ không tính trước được chuyện cậu muốn lấy lại thanh kiếm sao? Tớ đã phải đánh tráo thanh kiếm đấy. Tên William chắc hẳn muốn chiếm giữ Osivra lắm, may mà hắn được trao thanh kiếm của Hắc vương rồi nên mới chịu ngồi yên.
Cậu, chậc, khiến tớ cứ phải mang ơn mãi, Edward ạ!
Không, cả vương quốc này mang ơn cậu, đừng nói vậy!
Chúng tôi ngồi nói chuyện tới sáng. Edward bảo rằng ngày mai sẽ sắp xếp mọi thứ và kêu người chuẩn bị một chốn ở cho tôi ở làng Ladea. Cậu ấy có vẻ vẫn còn phật ý nhưng vẫn tôn trọng quyết định của tôi.
Và rồi, câu chuyện chấn động nhất lịch sử đã xảy ra.
Năm 732 A.P (After Purge – Sau Cuộc Thanh Trừng), liên quân ba nước lần đầu tiên đánh bại đoàn quân hắc nhân của Socuro, đem về thanh kiếm như là dấu ấn nhà vua của Hắc vương. Sau đó, Nathan Zachary, vị Thánh kiễm sĩ đời thứ bảy, đã qua đời do vết thương dai dẳng từ cuộc chiến. William Lasaro, từ một trưởng trung đoàn được trao trọng trách tương đương với Thánh kiếm sĩ, lãnh vai trò huấn luyện binh sĩ của Survenir. Từ đây, đánh dấu giai đoạn chuyển giao vì toàn dân tin rằng, Thánh kiếm sĩ đã không còn cần thiết nữa.
Chiều ngày hôm thông cáo được truyền đi, tôi tìm đến khu vực tri ân những binh sĩ đã nằm xuống nơi chiến trường ở phía sau tòa lâu đài Riviviry. Ánh mặt trời tà đổ bóng vàng cam lên cả khoảng sân. Những tấm bia được khắc tên sắp xếp một cách ngay ngắn theo từng bậc thang, những ai có quân hàm cao sẽ được xếp trên. Riêng tôi, bên cạnh tấm bia được đặt ở trung tâm còn là một bức chân dung khuôn mặt tươi cười, trong tay chống thanh Osivra xuống đất, mặc bộ áo choàng trắng lộng lẫy và uy quyền. Tôi và người trong tranh giờ nhìn thật khác lạ, không còn mái tóc được chải chuốt, khuôn mặt sáng lạn, thân hình đầy đặn và săn chắc, trên hết là vẹn toàn cả thân thể.
Những người thân của binh lính đứng xung quanh, người thắp nến hương, người đặt hoa và òa khóc. Tôi nghe những tiếng xì xầm:
Thế là cậu ta cũng chết chung với con tôi. Dù tôi không muốn nghĩ thế nhưng một tên tướng lĩnh như cậu ta thật sự đáng bị trừng phạt.
Tại sao hắn lại được chiếm một chỗ lớn như thế trong những tấm bia chứ? Hắn đã làm được gì mà lại được người ta trọng tụng? Tôi chẳng thể nào hiểu nổi đức vua!
Một tên thật sự chẳng có gì nhỉ? Không công trạng, không gia đình, và đến bây giờ, không một lẳng hoa.
Các ông quá đáng rồi đấy, cậu ta cũng đã ra đi như các con, các cháu của ông. – Một người đàn bà lên tiếng. – Cậu ta cũng đã chiến đấu, dù rằng có sai lầm, nhưng các ông còn ở đây cười cợt trên cái chết của người khác há còn ra thể thống gì?
Tiếng bàn luận im dần sau khi bà ấy nói. Nghe như thế, dù rằng còn sống đây, tôi cũng rưng rưng nước mắt.
Tôi đứng ngây ra trước tấm bia của mình, không muốn rời đi cũng chẳng muốn ở lại. Ngay giây phút này, lúc mà tôi quyết định không còn vướng bận gì với Survenir cũng là lúc tôi mất thật sự. Người còn đó, nhưng danh hiệu, trách nhiệm, nghĩa vụ sẽ không còn nữa. Nghĩ về những ngày phía trước, bỗng nhớ những ngày đã qua. Không ngày nào là không cầm kiếm, gặp gỡ những binh lính hớn hở theo mình, họp bàn chiến lược cùng tướng lĩnh. Tay tôi run run trong nỗi lưu luyến như lúc phải tạm biệt một người bạn.
Một đứa nhóc con mò đến gần chỗ bia tôi, tay cầm theo một nhành hoa cúc trắng, liên tục phải rướn người lên vì bục để tấm chân dung của tôi khá cao. Tôi để cây gậy tựa vào tường, cúi người xuống bế đứa bé lên. Nó ngây ngô nhìn tôi cho đến khi tôi cười và nhún vai với nó. Má thằng bé mập mạp ửng hồng, nhanh tay đặt nhành hoa lên bục để tấm bia của tôi.
Em có quý anh ấy không?
Có ạ! – Thằng bé bĩu môi buồn bã. – Người ta cứ nói xấu về anh ấy nhưng em thì vẫn tin!
Thật vậy nhỉ? – Tôi nhìn thằng bé mà cảm động khôn chừng.
Tôi đặt nó xuống, vẫy ta cho đến khi nó quay về bên mẹ, nhận ra đó là người đàn bà đã nói những lời bảo vệ tôi lúc nãy. Tôi cúi đầu thành kính với bà. Người đàn bà nghiêm trang đó cũng nghiêng đầu chào tôi.
Và thế, tôi cầm chắc cây gậy trong tay, quay người hướng về cổng thành.

0

Related Posts

2 Comments

Leave a Reply

Site Menu