#101 Sợi dây xích của Pandora

0

Tác giả: Introverted Edward Ledon

 

Giới thiệu: Chuyện kể rằng, nàng Pandora, vì muốn níu giữ tình yêu của mình ở lại, đã chế tạo ra một sợi dây xích bất khả xâm phạm để trói buộc trái tim của nàng với trái tim người đàn ông mà nàng đã chót yêu. Sợi dây xích chia sẻ cảm xúc, quyền năng, những vết thương, tuổi thọ giữa hai người và khi người này chết đi, người kia cũng sẽ chết theo.
Một ngày nọ, Mara được một bà phù thủy sống sâu trong rừng tặng cho một sợi dây xích để nàng có thể rằng buộc mình với chàng trai mà nàng yêu say đắm. Liệu rằng tình yêu có đáp lại sự mong đợi của nàng?

 

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

Truyền thuyết kể rằng, nàng Pandora, vốn là một nữ thần, đã đem lòng yêu say đắm một người đàn ông trần tục. Tuổi thọ của người trần mắt thịt vốn đã ngắn ngủi, hơn nữa anh ta còn mặc bệnh hiểm nghèo và số ngày còn lại trên thế giới của anh chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. Đương là một nữ thần, nàng không bao giờ chấp nhận hai chữ ‘số phận’. Nàng quyết định đem anh đi khỏi thế giới trần tục này và đến một thế giới cô quạnh, nơi chỉ có nàng, anh, những vì sao lấp lánh với những bông hoa đủ loài và màu sắc. Đó là một thế giới vĩnh hằng, nơi đó vốn là nơi sinh ra và cư ngụ của nàng. Nàng tưởng rằng nếu đem anh về với thế giới vĩnh hằng của mình, anh ấy sẽ tiếp tục sống mãi với mình cùng với sự vĩnh hằng đó. Nhưng nàng đã lầm, anh vốn dĩ không thuộc về thế giới này và sự bất diệt vốn cũng không thuộc về anh. Không giải quyết được vấn đề, nàng Pandora đau khổ vô cùng và điều đó đã dẫn nàng đến một sự lựa chọn cuối cùng. Và khi phải đối mặt với khoảnh khắc phải lựa chọn giữa thế giới vĩnh hằng và tình yêu, nàng đã quyết định chọn lấy tình yêu của mình và từ bỏ sự bất diệt.

Vào cái ngày định mệnh ấy, nàng đã rút toàn bộ năng lượng từ tất cả những vì sao lấp lánh trên bầu trời của nàng để tạo ra một sợi dây xích độc nhất. Sợi dây xích vàng chói với hai đầu mũi tên nhọn, một đầu cắm vào lồng ngực nơi trái tim nàng, đầu còn lại găm vào lồng ngực nơi trái tim anh và họ được kết nối với nhau bằng một chuỗi những mắt xích không thể bị phá vỡ dưới mọi hoàn cảnh. Sợi dây xích chia sẽ cảm xúc, những vết thương, quyền năng và tuổi thọ. Điều đó dẫn đến người này có thể cảm nhận được cảm xúc của người kia và ngược lại; những vết thương về thể xác lẫn tinh thần mà người này lĩnh nhận cũng sẽ được chia đôi ra cho người kia một nửa, quyền năng và tuổi thọ của họ cũng không phải ngoại lệ. Điều đó khiến họ phải cuốn lấy nhau và bảo vệ nhau trong mọi hoàn cảnh. Và khi tuổi thọ của hai người được chia đều cho nhau, hai người sẽ chết cùng nhau vào cùng một thời điểm.

Giờ đây, khi sự ‘vĩnh hằng’ của nàng đã được chia ra một nửa, nàng nhận ra mình sẽ không còn đủ thời gian để hoàn thành sứ mệnh vĩ đại của vũ trụ nữa và điều đó đã đưa nàng đến với một quyết định táo bạo thứ hai. Nàng dồn tất cả sự sống trên thế giới cùng những đóa hoa ‘bất diệt’ của nàng để tạo ra một chiếc quan tài. Chiếc quan tài này có khả năng đóng băng thời gian của vạn vật đặt trong nó. Nàng đã thuyết phục tình yêu của mình nằm lại trong chiếc quan tài để ngủ và điều đó sẽ giúp nàng bảo toàn được tuổi thọ cũng như quyền năng của mình. Chỉ khi nào quá nhớ anh, nàng lại mở nắp quan tài ra để cho anh tỉnh dậy và âu yếm nàng.

 

CHƯƠNG I

I

Ngày xửa ngày xưa, ở một ngôi làng xa xôi hẻo lánh, có một nàng thiếu nữ xinh đẹp đã tuổi trăng tròn. Cô sống cùng với cha mình trong một ngôi nhà tranh vách gỗ lụp xụp nằm tách biệt với ngôi làng. Đã đến tháng ba, vụ mùa đầu tiên trong năm, nên hàng ngày, cha cô ra ruộng cuốc đất, rải phân bón để chuẩn bị cho đợt gieo cấy lúa mạch. Cô cũng phụ giúp cha công việc đồng áng, ngoài ra còn chăm sóc vườn rau, nấu nướng, may vá, giặt giũ… Cuộc sống từ trước đến nay vẫn cứ như vậy trôi qua một cách yên bình, tuy có hơi túng thiếu nhưng họ chưa bao giờ phải chịu cảnh thiếu thốn lương thực hay quần áo mặc. Tuy nhiên, sự yên ấm không ở lại với họ lâu. Cho đến một ngày, người cha đổ bệnh khiến cho ông ốm yếu đi và chỉ có thể ngồi một chỗ. Gánh nặng từ công việc của ông và bổn phận chăm sóc cha mẹ của người làm con giờ đây đè nặng lên đôi vai nhỏ bé của cô gái còn ngây dại.

“Mara, dạo gần đây ta thấy mệt mỏi quá! Con hãy giúp ta gánh vác công việc còn dang dở trên cánh đồng. Đợi vài ngày nữa khỏe lại, ta sẽ lại tiếp tục công việc của mình. Con chịu khó hơn một chút nhé, con gái yêu của ta.”

“Cha hãy nghỉ ngơi đi. Mọi việc cứ để cho con lo liệu, cha không phải bận tâm gì cả.”

Mồ côi mẹ từ nhỏ nên ở cái tuổi mà những đứa trẻ khác còn đang học đánh vần thì Mara đã phải gánh vác trách nhiệm công việc của một người vợ trong gia đình. Vất vả hơn một chút cũng chẳng thành vấn đề – ít nhất thì đó cũng là điều mà cô đang nghĩ.

Những ngày tiếp theo, cô tiếp tục công việc mà cha cô bỏ lở trên cánh đồng. Thêm vào đó là cả tá những công việc sinh hoạt hằng ngày khác như bếp núc, giặt giũ, cho gà ăn, chăm sóc rau bụi, dệt vải, xách nước, bổ củi… Sau mỗi ngày mệt mỏi rã rời, Mara lại tự nhủ bản thân rằng chỉ cần cố gắng thêm một chút nữa thôi, cha khỏe lại rồi đâu sẽ lại vào đấy.

Thế nhưng mọi thứ đâu có được như cô mong mỏi, dù đã chăm sóc cho người cha chu đáo đến từng miếng cơm, ông lại ngày càng yếu hơn và chẳng có dấu hiệu gì là hồi phục; chỉ có sải ba bước chân để lấy bình nước uống thôi ông cũng thở ra hơi. Hằng đêm, tiếng rên ú ớ từ những cơn ác mộng mập mờ của ông còn khiến cô phải thức giấc để trấn an ông. Dù đã được chui rèn khả năng chịu đựng cực nhọc từ nhỏ nhưng có lẽ cô sắp tới giới hạn của mình khi mà giờ đây trụ cột chính của gia đình lại trở thành gánh nặng.

Cha cô từ thuở thiếu thời đã phải lặm lụi trên cánh đồng lúa để duy trì kế mưu sinh nên ông rất khỏe mạnh và ít khi bị ốm bệnh, mỗi lần ốm thì cũng chỉ do lao động quá sức rồi sau đó ông khỏe lại ngay. Nếu ông nói với cô rằng ông sẽ khỏe lại ngay thì đó không phải là để an ủi cô mà là vì ông tin chắc rằng mình sẽ khỏe lại. Mara biết điều đó…, nhưng lần này lại khác, từ lúc kêu mệt mỏi và ngồi một chỗ, sinh lực của ông đã giảm đi rõ rệt. Ban đầu ông vẫn có thể đi lại quanh quẩn trong nhà, giờ thì chỉ nằm bẹp trên giường, cố lắm vẫn ngồi dậy được để ăn chút thức ăn. Dù có đắp bao nhiêu cái khăn ướt đi chăng nữa, đầu ông cũng chẳng nguội đi tẹo nào. Điều đó khiến cô bồn chồn, sợ sệt.

“Cha cố gắng chịu đựng nốt đêm nay nữa. Sáng sớm mai con sẽ vào làng gọi bác sĩ đến khám cho cha.”

Sáng sớm hôm sau, khi mặt trời còn chưa chạm tới đỉnh núi, những giọt sương đêm vẫn còn đọng lại trên các nhánh cỏ, Mara đã sửa soạn tóc tai gọn gàng để đi vào làng.

Để đến được nhà của ông bác sĩ, Mara phải băng qua khu chợ nhỏ của làng.

“Mara, mới sáng ra đã đi đâu thế? Qua đây bác bảo cái này.” – tiếng gọi quen thuộc cất lên từ một người đàn bà đã thân quen với gia đình cô từ khi cô còn chưa được sinh ra.

“Chào buổi sáng bác Martina, cháu qua nhà bác Bernard. Cha cháu… cha cháu ốm nặng quá bác à!” – Mara vừa nói vừa nấc một cách khó nhọc, cô cố kìm lại những giọt nước từ khóe mắt.

“Ồ, lão Hosenfield khỏe như trâu vậy mà cũng biết ốm cơ à? Thật đúng là bệnh tật chẳng thể lường trước được với bất cứ ai.

“Cầm lấy này, giờ này chắc lão Bernard vẫn đang ngủ, con sẽ phải gõ cửa đấy.”

“Con cám ơn bác Martina!” – Mara cầm mẩu bánh mì manchet trong tay rồi cúi đầu biết ơn. Bà chủ cửa hàng tạp phẩm chỉ xua tay cho qua.

Mara vừa đi vừa nhấm nháp vị ngọt của mẩu bánh mì trên tay, loại bánh hảo hạng mà chỉ có những người giàu mới có thể mua về ăn, khác hẳn với loại bánh mì đen mà hằng ngày cô vẫn ăn.

Mara đứng trước một cánh cửa gỗ vòm, cô gõ cửa và đợi một lúc…, chưa có ai ra mở cô lại tiếp tục gõ và đợi…, vẫn chưa có động tĩnh gì cô kiên trì gõ và đợi thêm một lần nữa. Cánh cửa cọt kẹt mở ra chậm chạp, khuôn mặt đăm đăm khó ưa của một thằng nhóc hiện ra sau tấm cửa.

“Dai như đỉa thế, chưa đi à? Chị muốn gì?”

“Dạ, cho hỏi bác Bernard có nhà không ạ?” – Mara ngượng ngùng hỏi.

“Bác Bernard vẫn đang ngủ, tý nữa chị quay lại đi.” – rõ là thằng nhóc muốn đuổi mình đi để leo lên giường ngủ tiếp, cô nghĩ.

Thằng nhóc định khép cửa thì Mara giữ lại.

“Xin cậu đấy! Tôi đang có việc rất hệ trọng cần đến bác Bernard. Xin cậu hãy đánh thức bác ấy dậy.”

“Ở cái nơi khỉ ho cò gáy này mà cũng có cái việc tên là ‘hệ trọng’ à. Được thôi, nhưng…”

“Nhưng?”

“Nhưng chị phải cho em xem đồ lót của chị nhé?” – thằng nhóc ra cái điều kiện hư hỏng với khuôn mặt lạnh tanh, chẳng có chút biến đổi nào.

“Cái thằng lỏi con này!” – đến cả Mara hiền lành là vậy mà cũng hết chịu nổi cái thằng nhóc lập dị, cô dậm chân mạnh xuống đất.

Thằng nhóc đành đi vào gọi ông lão. Nó cũng biết thừa cái yêu cầu người lớn của nó chẳng bao giờ được đáp ứng, ấy vậy mà nó vẫn cứ phun ra hú họa. Chẳng biết nó muốn trêu cô hay muốn dòm thật nữa.

Một người đàn ông đã tuổi chiều muộn ra mở cửa khi còn ngái ngủ.

“Sue à, vào đây con. Đợi một lúc ta đi rửa mặt cái đã.”

Lão Bernard với mái tóc bạch kim dài quá cằm, bù xù và bết lại thành sợi được chải vuốt chéo ra sau để lộ một vầng trán cao với ba hàng nếp nhăn của một học giả. Bộ ria mép bạc xồm xoàm và lởm chởm không được cắt tỉa thường xuyên. Hai hàng lông mày trắng rậm rủ xuống giống như một con chó xù già, và dù mi mắt có hơi chảy xệ xuống hai viên ngọc của biển cả thì chúng vẫn giữ được cái ánh nhìn sắc lạnh của một con sói tuyết đơn độc. Nếp nhăn hiện lên trên khuôn mặt nứt nẻ và sóng gió cùng với dáng đứng ngạo nghễ và phong thái của một đấng quân tử cũng đủ để thấy lão không sinh ra và lớn lên trong cái ngôi làng yên bình này.

Lão chậm rãi ngồi xuống chiếc ghế gỗ tựa lưng vào bàn làm việc.

“Có chuyện gì mà mới sáng ra đã đến tận đây thế này con?”

“Dạ, chuyện là thế này. Chuyện là…” – Mara đang nói nửa chừng thì thấy thằng nhóc ngồi xổm bên cạnh đang nhấc gấu váy của cô lên để nhòm vào.

“Ơ! Chị Mara không mặc đồ lót à?”

Cô nhanh tay đẩy xuống. Ngượng đỏ chín mặt nhưng chẳng nói thêm được lời nào, cô ôm mặt khóc rưng rức.

“Thằng oắt con này! Biến vào trong nhà chơi cho tao.” – lão Bernard điên tiết lên quát khiến thằng bé hơi hoảng vì nó chưa bao giờ bị to tiếng vì nghịch ngợm đến vậy.

“Vânggg…” – vẫn cố gắng giữ khuôn mặt vô cảm xúc, thằng nhóc lề mề lết xác vào nhà trong.

“Chậc! Thật là! Chẳng hiểu cha mẹ nó dạy cho nó cái gì trước kia nữa. Bỏ quá đi nhé Mara, nó cũng không có ý gì xấu đâu.” – lão lấy ra một tẩu thuốc gỗ bạch đàn trong ngăn kéo bàn, viên một dúm thuốc sợi vào đầu tẩu rồi quẹt diêm châm lửa phì phèo. Mara ngừng nức nở mà chuyển sang ho sù sụ vì khói thuốc.

“Thuốc của Penzamira vẫn là tuyệt nhất!” – lão nhìn lên trần nhà và phả thêm một làn khói nghi ngút.

“Thằng Tom tội nghiệp, cha mẹ nó ở kinh thành đã bị chính quyền hoàng gia tống giam vào ngục vì tội tham nhũng. Tài sản thì bị tịch thu, phong hiệu thì bị tước bỏ. Thế là ta phải lĩnh trách nhiệm chăm sóc nó chỉ vì một chút quen biết với cha mẹ nó chứ, rõ là phiền phức! Cha mẹ nó có thiếu người quen đâu, nhiều người thân khá giả cũng muốn nhận nuôi nó nhưng cha mẹ nó vẫn cứ nhất quyết muốn ta phải tự tay dạy dỗ nó. Chậc! Suy cho cùng thì từ một thằng oắt công tử bột được cưng chiều quá mức và thích bốc váy người hầu xuống thành một thằng nhóc sai việc vặt thì cũng hơi khắc nghiệt. Ít ra thì thằng ranh này cũng không phải loại đầu đất, nó tiếp thu kiến thức về y thuật lẫn ma thuật khá là nhanh, có khi vài ba năm nữa nó thành thầy của ta mất. Hừm! Có thể lắm chứ!? Hô hô hô… Ấy chết! Mải ba hoa quá quên khuấy mất chuyện của con, vậy con đến đây có chuyện gì Sue?”

“Cha…, cha con bị ốm nặng lắm, bác có thể…” – Mara khúm núm nhìn xuống nền nhà, hai tay bện chặt vào nhau.

“Ốm? Cái lão khỏe như voi đấy á? Tối mấy hôm trước ta còn thấy lão nốc cả chục vại bia vào người cơ mà. Hừm… Được rồi, cứ bình tĩnh Sue, đợi ta thay bộ quần áo rồi hai ta cùng đi.”

“Tom! Ta ra ngoài một lúc, ở nhà coi nhà cho ta nhé?”

“Vâng, bác Bernard.”

II

“Ôi, trông tệ thật!” – hai người đang đứng trước giường của ông Hosenfield, ông đang thở một cách khó nhọc.

“Ông bị thế này bao lâu rồi?”

“Cũng được gần một tuần rồi ạ.”

“Há? Thế sao giờ này mới gọi ta.”

“Ban đầu cha chỉ mệt và ngồi một chỗ thôi ạ. Như mọi khi con nghĩ cũng chỉ do làm việc quá sức nên mới bị ốm thôi ạ, bình thường nghỉ một hôm là cha khỏe lại ngay. Nhưng lần này…”

“Con sơ suất quá!” – ông Bernard cúi người xuống rồi búng tay kêu tanh tách trước mặt bệnh nhân của ông. – “Anh Hosenfield! Nghe thấy gì không?”

“Cha con dạo này ăn ít lắm. Hằng đêm cha còn rên rỉ không ngủ được khiến con phải thức dậy theo để an ủi cha.”

“Rên rỉ? Ý con là ông gặp ác mộng hả?”

“Con không biết nhưng có lẽ là vậy rồi. Mỗi lần như vậy cha trông rất sợ hãi. Con chưa bao giờ thấy cha như vậy cả.” – Mara vừa nói vừa lấy tay áo gạt những giọt nước trên khóe mắt.

“Đêm nào cũng vậy hả?”

“Dạ vâng.”

Ông bác sĩ, như vừa phát hiện ra điều gì đó, lập tức lay bệnh nhân của ông dậy.

“Anh Hosenfield! Dậy đi, tôi cần hỏi anh mấy câu.”

“Ônggg Berrrnarddd…” – ông Hossendfield mở mắt và đáp lại chậm chạp.

“Vẫn tỉnh táo à? Tốt! Há miệng ra tôi xem.”

Ông bác sĩ dòm vào thì thấy khắp khoang miệng đầy nhưng nốt ban đỏ thẫm và tỏa ra một mùi hôi khó chịu.

“Trước đó anh có ăn cái gì lạ không?”

“…”

“Ví dụ như một quả dại nào đó.”

“Phải rồi. Tuần trước khi đang rẫy đám cỏ dại thì tôi thấy có một cây cà dại.”

“Cà dại? Và anh đã ăn nó?”

“…”

“Có phải cái cây đó nhỏ, ít lá, đen thui và co quắp lại trông như bị cháy rụi?” – ông Hosenfield gật đầu.

“Có phải quả của nó bằng đốt tay cái và cũng đen thui như than đá?” – ông Hosenfield trừng trừng đôi mắt, gật đầu trong sợ hãi.

“Và… nó bảo anh rằng hãy ăn nó đi?” – hỏi đến đây ông Hosenfield ôm mặt kêu lên thảm thiết.

“Ôi chết tiệt!” – ông Bernard sởn cả gai ốc và nguyền rủa như chính mình gặp phải vận rủi.

Mara lao đến bên giường, cô chẳng nói được nên lời mà chỉ nắm lấy tay người cha và mếu máo.

“Mở miệng ra anh Hosenfield.” – vị bác sĩ lấy ra một viên thuốc từ trong chiếc cặp da và thả vào miệng người bệnh.

“Giờ thì ngủ một giấc đi.”

“Nó là thuốc chữa hả bác Bernard?”

“Không, chỉ là một viên an thần thôi. Ít nhất thì ông sẽ không lên cơn trong sáng nay nữa.”

Ông Bernard bước ra khỏi nhà, mệt mỏi tháo gọng kính viễn và dụi hai khóe mắt. Ông gõ đầu tẩu vào thân cây Ô liu nhỏ gần đó để rỗ tàn thuốc rồi lại viên một dúm thuốc sợi cho vào.

“Cha con bây giờ ra sao rồi bác Bernard?”

“Tệ!” – ông quẹt đầu diêm vào thân cây để châm tẩu thuốc.

“Vậy… cha có thể được chữa khỏi không ạ?”

“Được.” – tính nghiêm trọng của sự việc khiến ông chẳng muốn nhiều lời.

“Vậy con phải làm sao bây giờ hả bác?” – ông phì phèo bi thuốc một cách chậm rãi để giải tỏa căng thẳng.

“Con đã nghe đến cái tên ‘Ác Mộng Ám Ảnh’ bao giờ chưa?”

“Chưa bao giờ ạ.” – cô lắc đầu.

“Cũng phải. Người bình thường mấy ai biết đến cái tên đó. Nó chính là tên cái thứ quả mà cha con đã ăn vào. Cái thứ quả ‘ác quỷ’ đó xui khiến những ai nhìn vào nó rằng hãy ăn nó. Thứ xui khiến họ chính là mùi hương phát ra từ thứ quả đó, nó giống như một dạng phép thuật thôi miên cao cấp ở mức thấp vậy.”

“Vậy bất kỳ ai nhìn thấy cũng đều ăn nó ạ?”

“Không, chỉ có những người không biết nó là quả gì thì mới bị lôi kéo thôi. Những người biết rồi và làm chủ được bản thân thì sẽ tránh được nó dễ dàng. Nó tuy là một dạng phép thuật thôi miên cao cấp nhưng mức độ chỉ ở tầm thấp của một đứa nhóc pháp sư học việc thôi. Đó là lý do vì sao tri thức mới là sức mạnh để làm chủ mọi thứ chứ không phải cơ bắp.” – Mara từ nhỏ đến giờ mấy khi được nghe đến từ ‘tri thức’, trình độ của cô chỉ đủ để viết một bức thư ngắn và đọc mấy mẩu tin trên bảng thông báo. Nhưng trong tình thế nước sôi lửa bỏng này, cô cũng chẳng mảy may thắc mắc.

“Thứ quả đó cũng chính là thuốc giải cho căn bệnh mà nó gây ra nếu biết cách điều chế. Bây giờ muốn chữa cho cha con thì ta phải có thứ thuốc bột tinh chế từ thứ quả ‘ác quỷ’ đó hay ít nhất phải có vài ba trái thì ta mới có thể điều chế được.”

“Vậy bác có nó không ạ?”

“Không, không còn nữa. Tiếc thật! Ta đã xài hết nó vào mấy trò thí nghiệm vớ vẩn cách đây lâu lắm rồi.”

“Thế… giờ con phải làm sao hả bác?”

“Tiền, trước mắt phải có tiền đã thì mới mua được nó. Hồi đó ta phải bỏ ra tận hai đồng vàng Penza chỉ để mua một túi thuốc bột nhỏ bằng đúng một đốt ngón tay.” – lão lấy ngón tay cái chỉ vào đốt ngón tay giữa cho Mara xem. – “Mà có tiền chưa chắc đã mua được ngay, thứ này khá là hiếm. Không phải tiệm thuốc nào cũng bán bởi nó chỉ chữa được duy nhất mỗi căn bệnh mà chính nó gây ra thôi. Mua nó từ một phù thủy, pháp sư, hay một học giả nghiên cứu nào đó có lẽ dễ hơn nhiều. Hừm! Bọn phù thủy ráo riết săn lùng thứ quả này để luyện mấy trò ma thuật hắc ám khốn khiếp nào đấy. Thứ này còn bị Chính quyền Hoàng gia liệt vào hàng cấm nữa, chỉ có mấy tên pháp sư và học giả được cấp phép mới được công khai sử dụng thôi. Người ngoài tích trữ món này với số lượng lớn là bị tống vào ngục ngay.”

Mara nghe xong mà toát cả mồ hôi hột.

“Vậy con có thể lên rừng kiếm nó không ạ?”

“Quên chuyện đó đi Sue. Nó khó như việc mò cây kim dưới đáy sông vậy. Cái thứ cây đó mọc rất ngẫu nhiên và không có quy luật gì cả. Phần lớn mọi người kiếm được nó đều do tình cờ gặp phải thôi. Kiếm mấy đồng vàng để mua nó còn dễ hơn gấp vạn lần.

“Trước mắt hãy cứ kiếm được ít nhất hai đồng vàng Penza đi đã. Đấy là nếu may mắn mỉm cười với con. Sau đó ta và con sẽ tính tiếp.”

Ông Bernard mở chiếc cặp da và lấy ra vài món đưa cho Mara.

“Nhớ kỹ, ba cái tuýp có dán nhãn màu xanh này là thuốc ngủ, buổi tối trước khi đi ngủ thì cho lão uống một tuýp là sẽ im đến sáng luôn. Ba viên màu trắng là thuốc an thần, ban ngày nếu lão có lên cơn thì cho uống một viên là đỡ. Ba lọ nước nhỏ không có nhãn này là thuốc… ờm…, nó là hỗn hợp hạ sốt với kháng viêm, cho lão uống trước bữa trưa, nó sẽ giúp lão ăn ngon hơn để có sức chống lại ác bệnh. Nên nhớ đây chỉ là giải pháp tạm thời giúp ông giảm sức ép của bệnh và kéo dài thời gian hơn cho con mà thôi. Giờ con nên khẩn trương lên thì hơn.”

Ông Bernard đóng cặp ra về thì Mara chột dạ gọi với lại. Cô nhanh tay cất đám thuốc vào túi váy trước và móc ra mấy đồng xu lẻ để đưa ông.

“Nhà con chỉ có từng này thôi ạ. Mong bác hãy nhận giúp con.”

Ông nhìn vào đôi bàn tay nhỏ lem luốc của cô gái đang cúi người về phía mình và thở dài đánh sượt một cái, có bốn đồng bạc và bảy xu đồng đã xỉn màu tất thảy.

“Sue à! Nếu ta làm việc này vì tiền thì chỗ đó không đủ đâu con.” – ông lấy ra trong túi một cọc nhỏ đồng bạc và thả vào đôi tay đang chìa ra.

“Cầm thêm chỗ này mà mua thêm đồ ăn cho ổng. Thật tiếc là ta cũng chẳng còn nhiều hơn đâu. Dù sao thì ở cái chốn cóc khô này ta cũng chả cần đến tiền làm gì. Nếu hết thuốc hay có bất cứ việc gì đi nữa thì đến gặp ta ngay nhé. Đừng khách sáo và cũng đừng xa cách ta quá.”

“Con… con… cámmm… ơ…” – nước mắt nước mũi giàn giụa, cô gái nhỏ bé và yếu đuối không đủ sức để giữ chúng lại.

“Để dành câu cám ơn sau khi cha con khỏi bệnh nhé. Ta về…”

“Sao… sao bác lại tốt với con quá vậy?” – Mara ngắt lời ông.

“Hừm, con có nghĩ ‘Tử Thần’ cần một lý do nào đó để lấy mạng một người không? Con có nghĩ ra lý do gì để cha con phải gặp tai nạn như hiện giờ không? Nếu ta giúp đỡ người khác mà cần một lý do thì thật là kém cỏi.”

“Thôi ta về đây. Chúc con may mắn!” – vị bác sĩ già hất tay lên chào một cách dứt khoát.

III

Mara quay trở lại nhà. Nhìn người đàn ông từng rất cường tráng và sung sức, người đã chia sẻ dòng máu và sự sống cho mình, trái tim của cô như bị xát vào muối. Cô gái nắm tay người đàn ông và áp lên má, ông cảm nhận được từng giọt nước ấm nóng chảy xuống từ ngón tay cái của mình.

“Cha ơi! Đừng lo lắng quá nhé! Con chắc chắn sẽ tìm được cách chữa cho cha.”

Ông có thể nghe thấy tiếng trái tim bé nhỏ đập thình thịch và âm vang từ trong lồng ngực ‘giọt máu đào’ xinh xắn và bé bỏng của ông. Nó rộn rã như tiếng trống hội hè của làng và nó khiến nơi trái tim ông thổn thức đến rạo rực thêm một lần nữa, một khoảnh khắc đẹp đẽ hiếm hoi nhất trong đời, kể từ cái ngày ông gặp được người con gái trong mộng của mình.

“Không đâu Mara, người đang lo lắng chính là con đó. Hãy tha thứ cho ta, Mara! Ta thật có lỗi khi để con ra nông nỗi này. Ta mới thật vô dụng làm sao!”

Tình yêu người cha dành cho cô khiến cô đau hơn gấp bội.

“Cha đang nói gì vậy? Con thật sự không hiểu…”

“Không sao đâu Mara, đừng lo lắng. Ta không sợ chết đâu, dù rằng giờ vẫn còn quá sớm nhưng ta biết rằng mẹ con đang đợi ta ở đâu đó phía bên kia con đường. Con còn quá nhỏ để có thể biết được tình yêu là gì, Mara. Giá mà ta có thể sống lâu hơn chút nữa, có lẽ ta sẽ…” – một cơn ho bất chợt ngắt lời ông.

“Cha đừng nói nữa, con chắc chắn sẽ chữa được cho cha. Con không cho phép cha bỏ mặc con ở lại một mình đâu. Không bao giờ!” – sự quả quyết và cố chấp của cô con gái khiến ông thêm đôi chút vướng bận.

Ông Hosenfield đã thấm mệt với cuộc đối thoại với đứa con gái cứng đầu của mình, ông đã quá sức để có thể nói thêm một từ nữa.

“Cha nghỉ ngơi và đừng làm gì quá sức nhé. Giờ con sẽ ra chợ mua vài thứ về nấu cho cha.”

Trước khi quay trở lại làng, cô đi vào bếp để kiểm kê lượng thức ăn còn lại trong trạn. – “Vẫn còn một ít bánh mỳ đen, trứng gà. Khoai tây mới thu hoạch ngoài vườn. Cá thu khô vẫn còn vài xâu. Có lẽ mình sẽ cần đến pho mát và thịt lợn.”

Giờ đã là gần trưa, mặt trời đã lên đến sát vị trí cao nhất của nó hằng ngày, Mara một lần nữa lóc cóc ra khu chợ trong làng. Lần này, cô đem theo một chiếc túi có quai được dệt bằng vải thô.

“Mara!” – giọng nói quen thuộc cất lên từ người đàn bà ngồi trong quầy hàng tạp phẩm mà mọi lần ra chợ cô đều nghe thấy. – “Lại đây con!”

Cô cũng có ý định mua ít pho mát nữa nên chẳng có lý do gì mà không ghé qua.

“Lão ấy sao rồi, Mara?”

“Bệnh cha con giờ tệ lắm bác à. Giờ con đang nghĩ cách để cứu ông ấy.”

“Lão Bernard đã qua xem chưa? Lão nói sao?”

“Bác Bernard bảo con phải kiếm đủ tiền để mua thuốc trước đã. Cha con mắc phải một căn bệnh kỳ lạ và phải có thuốc đặc trị mới có thể chữa được, thuốc ‘thường’ chữa không khỏi.”

Bà chủ tiệm tỏ vẻ ngạc nhiên. – “Lão cần tiền của con sao? Thật chứ? Ta tưởng lão tốt bụng lắm chứ. Lão chỉ mới về sống ở làng này hơn một năm nay thôi nhưng hầu như ai đến chữa bệnh lão đều không lấy tiền, có người còn được lão cho thêm tiền ấy chứ.”

“Không phải đâu bác!” – Mara hốt hoảng bảo vệ người đàn ông mà mình đã truyền đạt không gãy góc. – “Bác ấy tốt với con lắm! Chả là bác ấy không có thuốc để chữa cho cha con nên bác ấy mới bảo con kiếm đủ số tiền để mua thuốc. Sau cùng bác còn cho con mười đồng bạc Penza nữa nên con thực sự không hề nghi ngờ lòng tốt của bác ấy đâu ạ.”

“Ôi suýt nữa thì ta hiểu lầm lão.”

“Là lỗi của con không truyền đạt rõ ràng. Con thành thật xin lỗi bác!”

“Thôi, có gì to tát đâu con.” – bà cô nở một nụ cười đôn hậu rồi xua tay xuề xòa. – “Lão này chữa bệnh giỏi lắm nhé! Hầu như ai đến chữa đều khỏi cả.” – bà vừa nói vừa xúc một ít nho khô vào túi cô bé. – “Nghe đâu lão có một khoản trợ cấp hậu hĩnh từ hoàng gia nên chẳng bao giờ lo lắng đến chuyện tiền nong cả. Lão này đúng là kỳ lạ mà. Mà chả hiểu lão làm cái quái gì ở đây không biết nữa? Ấy chết! Đây đâu phải là chuyện mà ta nên lo nhỉ.”

Mara định trả tiền cho chỗ nho khô đó thì bà Martina đứng dậy đi vào trong. – “Đợi ta chút xíu!”

Bà đi ra với một chiếc hũ đất một gallon khá nặng. – “Con chuyển giúp ta chỗ mật ong này cho thằng Marko nhé. Nó đang ở chỗ quầy rượu của lão Rouleaux đó. Công lao coi như ta đã trả con rồi.”

“Con biết ơn bác nhiều lắm ạ!”

“Được rồi. Đi đi con.”

Lão Rouleaux, chủ quán rượu, có thân hình không hề nhỏ bé với cái đầu hơi hói và cái bụng phưỡn ra của tuổi trung niên; hơn tất cả, đám cơ bắp cuồn cuộn và gân guốc của một con gấu là minh chứng rõ ràng nhất cho việc lão từng là một vệ binh kỳ cựu của hoàng gia. Đến cái ngày mà tuổi tác và dáng vóc không còn phù hợp cho công việc hộ giá, triều đình đã thưởng lão một khoản hậu hĩnh để bù đắp cho cái sự nghiệp cống hiến không biết mệt mỏi của lão. Lão đã quyết định khăn gói về quê nhà nơi đây, dùng số tiền có được để mở một quán rượu vừa để có thêm thu nhập, vừa để thỏa mãn cái sở thích nhậu nhẹt bù khú vốn có của lão.

Lão chủ quán, tay chống cằm ngồi sau quầy, nhếch một bên lông mày lên nhìn cô gái vụng về đang bước qua cửa. Lão Rouleaux rất thích chọc ghẹo lũ nhóc và trong mắt lão thì Mara chẳng lớn hơn lũ nhóc là mấy. Quán rượu thường chỉ đông khách vào buổi tối và sự xuất hiện của Mara vào buổi sáng muộn thế này càng khiến lão mừng như mở hội, khuôn mặt của lão như muốn cười phá lên nhưng lão kiềm chế nó rất giỏi. Sắp có đứa giúp mình giải khuây rồi đây, lão nghĩ.

“Uhmmm, Bác Rou…”

“Ồ, Mara đó à?” – Chẳng cần nghe cô muốn gì, lão nhanh chóng ngắt lời với khuôn mặt đột nhiên sáng bừng lên một cách mỉa mai và thô thiển của một diễn viên kịch nghiệp dư.

“Chào buổi sáng bác Rouleaux!” – cô gượng gạo đáp lại.

Lão chủ quán quay sang nhìn con mèo đang ngồi trên quầy bàn. – “Ê, mày có biết Rouleaux là thằng nào không? Thằng Rouleaux là thằng chết bầm nào ấy nhỉ?”

“Nnyaooo…”

“Bác Rouleaux, cháu không đùa đâu nhé!”

“Thôi, thôi được rồi. Vẫn như mọi khi nhỉ?” – lão gọi với vào nhà trong. – “Elrin! Lấy cho lão Hosenfield một chai rượu nho.”

“Không phải đâu ạ!” – Mara nhăn mặt tỏ vẻ muốn đầu hàng.

“Hả?”

Sự bối rối của Mara càng khiến cô trở nên khó diễn đạt. Lão chủ quán rượu tinh ý chớp ngay cơ hội tiếp theo. – “À phải rồi ha! Mara cũng lớn rồi mà, đúng không nhỉ?” – lão lại quay sang nói với con mèo. – “Mày có thấy Mara bây giờ lớn lắm rồi không? Càng ngày nó càng giống mẹ nó ghê!”

“Nnyaooo…” – con mèo trắng đáp lại như thể nó hiểu hết tất cả.

Lão quơ ngay một cái vại gỗ úp trên giá rồi bơm đầy bia từ thùng. Lão đặt ‘phịch’ chiếc vại đầy bia với bọt xuống quầy trước mặt cô làm cô phát hoảng. – “Đây! Của Mara đây nhé. Uống đi cho nó lớn thêm tý nữa.”

“Ếhhh…, con… con chỉ muốn hỏi ở đây có ai tên là Marko không thôi ạ.”

Lão Rouleaux chau một bên mày lại. – “Để cái hũ đó xuống và ngồi xuống đây đã!” – lão chỉ tay ra góc quầy, nơi có hai người đàn ông đang tranh cãi nhau về chuyện gì đó. – “Thằng ngồi trong góc tường đó, đợi thằng kia cuốn xéo đã thì đi vào. Trong lúc đợi thì uống hết chỗ bia này đi.”

“Ơ, nhưng con đâu có gọi.”

“Tao có đòi tiền đâu mà sợ, uống đi!”

“Nhưng…”

“Không nốc hết được cái vại này thì bữa sau đừng có vác xác đến đây nhìn mặt tao nữa.”

Mara bị dồn vào thế bí như con chuột nhắt tội lỗi bị dồn vào chân tường và sắp sửa bị ăn một chổi. Cô liếc sang phía hai người đàn ông trong góc quán. – “Hai thằng đấy còn lâu mới xong. Thằng Marko còn ở đây đến sáng mai cơ nên yên tâm đi, nó chưa đi ngay đâu.”

Cô quay lại nhìn chòng chọc vào vại bia.

“Thư giãn đi, thử làm một tợp xem nào.”

Chẳng còn lựa chọn nào khác, Mara nhấc vại bia lên nhấp một ngụm. Đắng ngắt! Cảm giác cay xè ở cuống họng do ga bia khiến cô nhăn nhúm lại như đứa trẻ sơ sinh cắn phải lát chanh. Vậy mà sao đàn ông lại thích được cái thứ này cơ chứ, cô nghĩ.

“Con phải uống hết chỗ này thật sao?”

“Hơ, vậy mà lão Hosenfield một tối nốc hết mười cái vại đó đấy.”

Mara lượng lự nhìn vào vại bia.

“Cha lại trêu chị Mara nữa hả?” – Lão Rouleaux nhìn xuống một con nhóc màu tóc đỏ hung rũ rượi đang ôm chai rượu to bằng cả người, chả biết nó đứng đó từ bao giờ. – “Mày làm cái khỉ gì mà lâu thế?”

Mặt con nhóc khó đăm đăm như thằng Tom vậy, chỉ khác điều cảm xúc của Elrina dạt dào và dễ lay động hơn thằng Tom nhiều.

“Con còn phải lấy thang để leo xuống tầng hầm nữa. Đâu có đơn giản!”

“Thôi, giờ thì không cần nữa. Đem cất vào đi. Xùy xùy…” – lão xua tay đuổi con nhóc như đuổi một con cún con. Elrina chẳng biết để đi đâu cho hết cái tức. Cô nhóc tiến lại gần lão, vung chân đá lão một cái.

“Ê cái con này, hư quá! Ai dạy mày thế hả?”

“Cha chứ còn ai, tất cả đều do cha hết!” – nó gào lên.

“Con ranh này thích ăn đòn à? Tý tao cho mày một trận nhé?”

“Vậy à? Con thách cha đó. Cha mà đánh con thì cha đi mà làm hết tất cả mọi việc. Lúc đó có quỳ xuống van xin con cũng không tha cho cha đâu. HỨ!!!” – con nhóc tóc đỏ hẩy đít đi vào nhà. Thật chẳng hiểu sao đó lại là cái cách mà hai cha con họ yêu thương lẫn nhau!

Con nhóc biết tỏng tánh cha nó và cha nó cũng vậy. Nuôi nó từ khi mới lọt lòng, lão Rouleaux thấy nó chẳng giống đứa nào. Những đứa trẻ khác thì phải dạy chúng bằng roi vọt mới hiệu quả. Nhưng Elrina lại là một đứa đặc biệt, càng thương yêu và chiều chuộng thì con bé lại càng dễ bảo và vâng lời. Cái tính nhố nhăng của ông bố lại càng làm nó thêm đứng đắn và biết điều hơn bao giờ hết. Cha nó có quát thì cũng chỉ là chọc nó cho đỡ tức thôi, lão chưa bao giờ đánh nó và cũng biết rằng bạo lực sẽ chỉ làm cho tình cảm rạn nứt mà Elrina lại là một đứa không dễ dàng tha thứ. Đó là sai lầm mà lão Rouleaux chưa từng và không bao giờ phạm phải.

Lão lại quay ra nhìn cô gái đang đờ đẫn ngồi ôm vại bia chả vơi đi tẹo nào. Lão gõ tay xuống quầy. – “Ê! Khó uống quá thì cứ nhắm mắt nhắm mũi làm một hơi là hết thôi. Nó cũng có nhiều chất bổ lắm chứ có phải đồ độc hại gì đâu.” – lão nghĩ đùa vậy chắc đủ rồi.

Trong hai người đàn ông ngồi trong góc quán, một người đã đứng dậy và đi ra khỏi cửa. Lão Rouleaux không còn ý định trêu chọc Mara nữa, ấy vậy mà nếu thấy cơ hội lão lại nhanh nhảu chớp lấy không hề từ bỏ. – “Ê, thằng kia đi rồi kìa. Uống không nhanh thằng còn lại đi nốt bây giờ.”

Mara ngốc nghếch lại luống cuống, rõ là lão đang chọc mà chả nhận ra. Cô nhắm nghiền mắt lại rồi làm một hơi ỰC ỰC ỰC…, cạn luôn cả vại! Lão đầu hói nhìn mà há hốc cả mồm. – “Ha! Được đấy. Không tệ chút nào!”

Mara bất giác ợ lên một hơi ngắn, cô nhanh tay che miệng lại. Sự thô thiển một cách vô ý khiến cô ngượng đỏ chín cả mặt, nhưng lúc kịp nhận ra thì (ôi thôi!) đã quá muộn rồi! Lão Rouleaux đứng đơ ra một lúc, rồi một tay ôm mặt, một tay đập xuống quầy, lão phá lên cười. – “Mhahahaaa… Ôi tôi đến chết mất! Sao nó lại giống ông già nhà nó thế cơ chứ !?” – Mara ước gì có một cái lỗ ở gần đó để mình có thể chui xuống.

Lão Rouleaux vẫn chưa dứt trận cười giòn giã khiến Mara bắt đầu mếu máo rồi lại ôm mặt khóc rưng rức.

“Thôi, được rồi mà. Cho ta xin lỗi đi. Đừng khóc nữa.” – lão biết mình đùa quá trớn, nhưng mà lại không thể ngừng được.

Mara dứt khoát lau nước mắt, giậm mạnh một chân xuồng sàn rồi quay ngoắt đi về phía gã đang ngồi trong góc quán. Bước được ba bước thì cô nhớ ra mình quên cái hũ mật ong ở trên ghế; cô quay lại lấy rồi lại quay ngoắt đi, chiếc váy theo quán tính xoay một vòng rồi hất ra sau như muốn nói ‘tôi đây chẳng thèm quay lại lần nữa’.

“Mara à! Lần sau quay lại nữa nhé con. Bác là bác thương con nhất đấy.” – lão vẫy tay về phía cô rồi lại ôm mặt cười khúc khích. – “Ôi sao thời tiết hôm nay nó lại đẹp đến thế!?”

Mara hậm hực bỏ đi mà không nói thêm một từ nào.

IV

Trong lúc cô gái ngồi ở quầy đang nhìn vào vại bia thì hai người đàn ông trong góc quán đang tranh cãi nhau.

“Xin lỗi cậu nhé! Có lẽ vụ này tôi không nhận đâu.”

“Anh chê ít sao?”

“Không, không hẳn.”

“Mong anh suy nghĩ kỹ lại. Ngoài anh ra tôi chẳng còn biết ai ở đây phù hợp hơn với nhiệm vụ này cả.”

“Cậu biết đấy, tôi bỏ nghề lâu lắm rồi. Thực sự thì tôi không muốn quay lại đó chút nào cả. Thậm chí tôi còn không dám nghĩ về nó nữa, quả là một cơn ác mộng! Con quái vật đó… súng đạn không thể hạ gục được!”

“Tất nhiên là tôi biết chuyện của anh. Đó là lý do vì sao tôi tìm đến anh. Thôi nào! Anh là thợ săn giỏi nhất ở vùng này mà phải không?”

“Ừm, tất nhiên rồi. Những người giỏi nhất đã chết hết rồi còn đâu. Giờ tôi chỉ thi thoảng lai vãng ở khu rừng phía tây để săn mấy con thỏ và gà rừng cho ngài Bá tước thôi.”

“Anh có thể đi vào ban đêm mà, đúng không? Lúc đó con ‘quái vật’ đó có lẽ đang ngủ rồi.”

“Vào khu rừng đó ban đêm? Cậu bị điên à?”

“Hai đồng vàng! Tôi sẽ trả anh hai đồng vàng cho vụ này. Coi như tôi bị lỗ đi. Nếu không phải vì uy tín và tầm quan trọng của nó thì tôi đã bỏ đi từ lâu rồi.”

Người đàn ông kia phân vân một chút. – “Tôi biết cậu trả rất cao cho vụ này nhưng… đây không chỉ là vấn đề về tiền bạc. Cậu biết đấy, tôi còn có vợ và một đứa con nhỏ ở nhà. Tôi cũng đã quá già cho những trò mạo hiểm với phần thưởng kếch xù rồi. Họ là tài sản lớn nhất đối với tôi; tôi không muốn đánh đổi họ với bất kỳ thứ hão huyền nào khác nữa. Tôi biết anh cũng có ý tốt nhưng thực sự xin lỗi anh. Mong anh thông cảm!”

“Hả? Thật chứ?”

Người đàn ông kia không nói gì thêm; anh đứng dậy, cúi chào lịch sự rồi ra về. Tên còn lại thì ôm đầu lo sốt vó đến mức chẳng thèm để ý đến câu chuyện ồn ào đang diễn ra quầy bàn.

“Anh Marko phải không ạ?” – lúc sau, một cô gái trẻ xuất hiện trước mặt hắn. Hắn chán nản nhước mày lên nhìn.

Marko là một tên thương buôn ranh mãnh, hắn có đôi mắt của một con cáo. Làng Woolbricks xa xôi hẻo lánh thường hiếm người qua lại nhưng lại nằm trong lộ trình thường xuyên của hắn; hẳn là hắn phải có một mối liên hệ mật thiết nào đó với vùng đất này.

“Phải! muốn gì?”

“Bác Martina gửi anh chỗ mật ong này ạ.”

“À! Để lên ghế đó.” – hắn hất tay ra sau.

“Uhm… xin lỗi anh. Tôi có thể làm phiền anh chút không ạ?”

“Hả? Gì nữa đây?” – hắn lại mất công ngếch lên nhìn thêm lần nữa.

“Tôi… tôi có thể kiếm hai đồng vàng đó của anh không ạ?” – có vẻ như trong lúc đang nhìn vào vại bia, Mara đã nghe lỏm được ít nhiều câu chuyện giữa họ.

Hắn liếc nhìn một lượt từ chân tới đầu cô gái và nhoẻn miệng cười. – “Còn trinh không?”

“Ơ… Ưm… chuyện đó thì có liên quan không ạ?”

“Liên quan chứ! Cô em muốn bán thân chứ gì? Còn trinh sẽ được giá hơn nhiều đấy. Trông cô em cũng ngon lắm! Theo anh lên Penzamira nhé? Bọn quý tộc trên đó sẵn sàng bỏ ra cả một núi gia tài để sở hữu cô em đấy. Tin anh đi, em sẽ không phải sống khổ sở như ở đây đâu.”

“Không phải đâu ạ! Ý tôi không phải vậy đâu ạ.”

“Hả? Thế muốn gì?”

“Nhiệm vụ của anh Ben… tôi có thể nhận nhiệm vụ của anh ấy không ạ?”

Marko thất vọng tràn trề, hắn thở một hơi dài rồi phẩy tay. – “Không muốn bán thân thì xéo đi chỗ khác. Tao đang mệt muốn chết đây!”

Mara vẫn đứng đó, cúi mặt nhìn xuống sàn, hai tay bện chặt vào nhau. Cô không hề có ý định từ bỏ cơ hội trời ban này.

“Ê, chưa cuốn xéo đi à? Biến đi dùm cái, đứng đó nhìn ngứa mắt lắm.”

“Xin anh đấy, hãy để tôi nhận nhiệm vụ này. Tôi thực sự rất nghiêm túc.”

Hắn nhìn chằm chằm cô một hồi lâu. – “Nhìn cô kìa, chưa gì đã run thế thì làm ăn gì!?”

“Được rồi, để tôi nghĩ.”

Xem nào, hắn bắt đầu nhẩm bụng, đến cả thợ săn vùng này còn chẳng dám vào nơi đó. Giờ lại phải nhờ đến một con nhóc đầu đất miệng búng ra sữa chui vào đó thì nó chết là cái chắc. Làm vậy có đúng với lương tâm không đây? Nhưng đâu còn lựa chọn nào khác. Mình sẽ cảnh báo con bé, nếu nó không sợ thì ít nhất đó cũng là do nó tự đâm đầu vào thôi. Nếu nó tỏi thì ít nhất mình còn có lý do để đổ tại, chứ nếu cứ vậy mà bỏ đi thì mất hết cả uy tín lẫn danh dự. Không khéo còn bị người ta trù ẻo đến chết mất.

“Thôi được rồi! Ngồi xuống đây.” – khuôn mặt cô rạng lên một tia hy vọng. – “Chưa vui được đâu. Giờ mới là phần khốn nạn nhất đây.”

Marko nhổm dậy, moi ra một chiếc hộp từ bao tải dựng trong góc tường và đặt xuống bàn. Chiếc hộp hình vuông thấp với kích cỡ của một hộp bánh làm bằng gỗ và được gói nút cẩn thận trong một tấm vải lụa trắng.

“Cô biết khu rừng phía bắc của ngôi làng này chứ?”

“Dạ biết.”

“Cô từng vào đó lần nào chưa?”

“Tôi vào rồi. Hồi còn nhỏ, tôi và Lucas hay vào đó rong chơi.”

“Thế còn bây giờ?”

“Cách đây vài năm, cha tôi có dặn là không được đi vào khu rừng đó nữa. Ở đó có một con gấu mà bất cứ ai đi vào đó cũng đều bị nó tấn công.”

“Rồi, vậy là cô cũng biết. Nhiệm vụ của cô sẽ là đưa chiếc hộp này cho một người đàn bà sống sâu trong khu rừng đó.”

Marko lôi ra một tờ giấy được gấp đôi bên trong vạt áo và đưa cho Mara.

“Tôi chưa vào khu rừng đó bao giờ nên không biết. Nhưng tất cả đường đi nước bước đều được ghi chi tiết và cẩn thận nhất ở trong tờ giấy này. Cô là người ở đây thì không thể có chuyện lạc đường được trừ khi cô bị mù.”

Mara mở tờ giấy và nhìn vào từng con chữ bên trong đó.

“Cô biết đọc chứ?”

“Vâng, tôi đọc được.”

“Được rồi. Trở ngại lớn nhất bây giờ chính là con ‘quái vật’ nằm ở bìa rừng. Cô biết gã đàn ông mà tôi vừa nói chuyện chứ?”

“Vâng! Là anh Ben, thợ săn của bá tước Lloyd.”

“Cách đây hai năm, bá tước Lloyd đã cử năm thợ săn lão luyện nhất trong làng đi vào khu rừng phía bắc để triệt hạ con ‘quái vật’ đó. Nhưng kết cục là bốn người bị xơi, chỉ còn duy nhất một người sống sót quay về. Đó là Ben. Trước đó đã chẳng ai dám bén mảng đến khu rừng rồi, sau vụ đó thì người ta càng khiếp nó hơn. Cô biết đấy, súng đạn, cung tên, dao găm của thợ săn còn chẳng hạ nổi nó. Nếu cô đụng phải nó thì dồn hết sức mà chạy đi nhé. Nằm một chỗ giả vờ chết không có tác dụng đâu. Nghe đâu con ‘quái vật’ đó thù con người lắm. Đến cả xác chết rồi nó còn xé ra làm từng mảnh cơ. Và cũng đừng có leo lên cây, con ‘quái’ đó ủn đổ cây đấy.

“Giờ thì cô nghĩ lại vẫn kịp đấy.”

“Không!” – Mara quả quyết. – “Tôi sẽ làm.”

“Được rồi, để tôi nhắc lại lần nữa cho rõ nhé. Nhiệm vụ của cô là đưa cái bọc này cho người đàn bà sống sâu bên trong khu rừng phía bắc của ngôi làng này. Đi theo sự chỉ dẫn của tờ giấy, cô sẽ đến được nơi cần đến. Đến đó, bà ta sẽ đưa cho cô một vật làm tin. Mang vật đó về đưa cho lão Rouleaux, lão sẽ đưa cho cô số tiền công mà tôi đã hứa, hai đồng vàng Penza. Trở ngại lớn nhất chính là con quái vật ở bìa rừng. Hy vọng cô sẽ không đụng phải con ‘quái’ đó cả khi đi lẫn khi về. Và… cô đừng nghĩ đến ý định đem bán chiếc hộp nhé; cả cái vỏ lẫn thứ bên trong nó hoàn toàn vô giá trị với người bình thường.”

“Tôi sẽ không bao giờ làm như vậy đâu.”

“Tôi cũng mong như vậy và… cũng đừng quá tò mò mà mở chiếc hộp đó ra nhé. Thứ bên trong nó có thể giết chết cô đấy.”

“Tôi hiểu rồi.”

“Chỉ có thế thôi. Cô có thể đi được rồi. Chúc cô may mắn!”

Cô gái đi ra đến cửa thì gã lái buôn gọi với lại. – “Ê! Đừng chết nhé, ít nhất là cho đến khi giao được hàng. Nếu không sẽ rất rắc rối cho tôi đấy. Thực sự phiền phức lắm đấy!” – hắn chẳng quan tâm lắm đến mạng sống của một con nhóc không quen biết, thứ mà hắn lo chỉ có tiền bạc và danh dự mà thôi.

Mara sực nhớ ra mình còn chưa mua pho mát với thịt lợn xông khói. Trên đường về, cô rẽ qua hàng thịt rồi sau đó lại rẽ vào nhà bà chủ cửa hàng tạp phẩm. Cuối cùng, bà còn chẳng lấy tiền của cô mà còn cho cô thêm một bọc nhỏ bánh quy mặn nữa.

V

Ông Hosenfield vẫn nằm bất động trên giường. Mara chạm tay lên trán ông, vẫn nóng bừng như lửa đốt! Cô đỡ ông dậy, cho ông uống một lọ thuốc, thay khăn lạnh rồi cất chỗ thức ăn vừa mang về vào bếp. Mara tính sẽ nấu một nồi xúp thịt băm. Nguyên liệu đã đầy đủ cả, chỉ còn mấy khúc gỗ là chưa được chặt nhỏ ra. Cô vác một bó củi ra ngoài nhà cùng cây rìu dài một thước, nặng gần tám pound và rất chắc chắn đã được ông Hosenfield mài lại từ đầu năm. Thường ngày, công việc bổ củi sẽ là cha cô làm. Thi thoảng, ông vẫn cho cô làm để luyện lấy một chút gân tay nhưng được vài ba khúc là ông lại làm nốt vì thương cô con gái đã phải làm hàng tá những việc khác rồi. Mara đặt một khúc gỗ lên một gốc cây lớn đã bị chặt từ lâu, cô đứng vào tư thế, ngắm đầu rìu vào giữa khúc gỗ, nhấc ra sau gáy và bổ mạnh xuống một nhát, lưỡi rìu vút theo một đường tròn tuyệt đối trước khi cắm xuống khúc gỗ; cô tiếp tục nhấc cây rìu lẫn khúc gỗ dính ở lưỡi rìu lên, bổ mạnh một nhát, và một nhát nữa, khúc gỗ tách ra làm đôi. Công việc cứ như vậy, mỗi khúc chặt ra làm bốn cho đến khi đủ lượng gỗ để nấu nồi xúp.

Một anh chàng cao ráo trẻ tuổi với mái tóc ngắn màu sô cô la đen đi ngang qua và dừng lại, theo sau anh là hai chú trâu đực đồ sộ, lực lưỡng.

“Mara à! Anh nghe nói cha em bị ốm?”

“Anh Lucas!” – không biết đã bao nhiêu năm rồi anh chưa được nghe giọng nói của cô gái đã gắn bó với anh từ thuở nhỏ. Tiếng cô gái cất lên khiến lòng anh rạo rực.

“Ừm, anh đây. Em dạo này trông xanh xao quá! Em ổn chứ?”

“…” – đôi mắt cô gái lại long lanh đẫm nước, đôi môi lại run lên bần bật.

“Chúng mày nằm ngoài này nhé, tao vào trong nhà xem thế nào.” – anh quay lại nói với hai con trâu.

Lucas bước vào nhà, Mara vẫn đứng đó chẳng buồn chặt thêm nhát nào nữa. Một lúc sau anh bước ra, nhìn vào khuôn mặt tiều tụy của cô gái, anh chẳng dám hỏi thêm câu nào.

“Bỏ đó anh làm nốt cho, em vào chuẩn bị đồ ăn đi.”

“Vâng!” – Cô lẳng lặng đi vào. Anh lại tiếp tục công việc của cô.

Lucas đặt một khúc gỗ lên gốc cây, vẫn tư thế đó, vẫn khoảng cách từ người đến khúc gỗ đó, vẫn cách ngắm đó, anh chầm chậm vung rìu ra sau gáy và bổ. Cũng chỉ là một đường rìu cong hoàn hảo như của Mara nhưng có điều là khúc gỗ đã tách ra làm đôi chỉ sau một nhát chuẩn xác. Công việc chặt bổ quá đỗi bình thường của một anh nông dân cày thuê cuốc mướn từ bé đã phải vác cuốc ra ruộng, anh thừa biết sức lực để chặt đôi khúc củi trong một nhát sẽ tốn hơn rất nhiều so với chia nó ra làm hai ba nhát nhưng đó lại là sự thử thách và rèn luyện do tự anh đặt ra cho chính mình khi còn nhỏ. Bởi cuộc sống của một vùng quê thanh bình quá nhàm chán cho anh. Ở đây, anh chẳng có gì để chơi ngoài dịp lễ hội mùa hè hiếm hoi của làng trong năm, Lucas luôn tự đặt cho bản thân sự thử thách từ trong những công việc thường ngày tưởng chừng như đơn giản nhất. Lucas yêu sự thử thách. Anh thậm chí còn đặt ra mục tiêu khắc nghiệt hơn cho mình sau cái chết của một người bạn thân của anh, một trong bốn người thợ săn đã bị con gấu xé xác.

Lucas đã bổ xong đám gỗ mà chả tốn một giọt mồ hôi. Anh bó lại rồi mang đám gỗ vào nhà, Mara cũng đã chuẩn bị xong. Hai người cùng nhau nhóm lửa nấu nồi thức ăn.

“Lần cuối cùng chúng ta làm một việc gì đó cùng nhau là từ khi nào Mara nhỉ? Cũng phải nhiều năm lắm rồi?” – Mara chẳng biết phải đáp lại như nào. – “Cha em sao rồi? Đã có thuốc cho ông ấy chưa?”

Mara lắc đầu, đám tóc rối lơ thơ bên ngoài búi tóc phe phẩy theo.

“Anh Lucas…, có thể giúp em một việc được không?”

“Tất nhiên rồi, nói anh nghe xem.”

“Em muốn anh giúp em chăm sóc cho cha từ nay cho đến khi nào em về.”

“Em đi đâu sao?”

“Em mới nhận được một nhiệm vụ. Sau khi hoàn thành nó em sẽ có đủ tiền để mua thuốc cho cha.”

“Thuốc hết bao nhiêu tiền?”

“Hai đồng vàng Penza.”

“Ùa… thuốc gì mà đắt khiếp! Nhưng sao em không nói với anh sớm? Chỗ đó anh dư sức vay được từ ngài Bá tước. Hai đồng vàng ấy đối với lão chả là gì cả! Có khi lão còn vứt luôn cho anh ấy chứ!”

Mara lại ngoe nguẩy lắc đầu. – “Dù sao em cũng đã nhận nhiệm vụ. Trước sau gì cũng phải hoàn thành. Em cũng không muốn nhận thêm lòng tốt từ mọi người nữa. Em thấy áy náy lắm!”

Lucas cảm thấy một chút bực bội nhưng anh vẫn giữ được điềm tĩnh.

“Nhiệm vụ là gì?”

“Em không thể cho anh biết được.”

“Tại sao?”

“Em không muốn anh phải gặp nguy hiểm chỉ vì chút khó khăn của riêng em.” – Mara lại lắc đầu.

“Lên khu rừng phía bắc phải không?”

Mara giật thót mình. – “Ơ! Sao anh…?”

“Ở đây thì còn chỗ nào nguy hiểm ngoài chỗ đó đâu.” – Anh lấy thêm một khúc củi cho vào bếp. – “Em ở nhà trông cha đi, để anh đi cho.”

“Không được, Lucas! Em nhất định phải làm việc này, em xin anh đấy!”

Nhìn sự quyết tâm của Mara, Lucas chẳng dám kỳ kèo thêm. Trước nay, ai bảo gì anh đều nghe theo mà chẳng nài nỉ lại bao giờ.

“Ừm, được rồi. Vậy ăn xong bữa trưa đi đã, rồi anh sẽ đưa em đi hết bìa rừng.”

“…”

“Đó là giải pháp tốt nhất rồi, Mara. Đừng hỏi gì thêm nữa.”

Nồi xúp đã chín, hai người cùng nhau đỡ ông Hosenfield dậy để uống thuốc và cho ăn trước khi ngồi ăn cùng nhau.

Sau bữa ăn, anh lại giúp cô chuẩn bị những món đồ cần thiết cho việc đi rừng. Bằng kinh nghiệm vốn có của mình, anh chu đáo kiểm kê lại các vật dụng; một chiếc chăn dạ, một mẩu bánh mì đen, một lát thịt lợn xông khói, một con dao rựa cong lưỡi để phạt cỏ bụi, một con dao nhỏ để tiện cắt gọt, một cuộn dây thừng, một túi nước bằng da dê, một hòn đá lửa dẹt và một miếng thép nhỏ, một ít bùi nhùi được gói trong một tờ giấy, một bó nhỏ cọng lác khô, một chiếc đèn lồng được thắp bằng mỡ động vật và cuối cùng là thứ quan trọng nhất của chuyến đi này, gói hàng. Tất cả đều được anh xếp ngăn nắp trong chiếc rọ lớn đan bằng liễu gai có nắp đậy và quai mà cô hay dùng trong các vụ mùa thu hoạch. Mọi thứ đã chuẩn bị tươm tất nhưng Lucas vẫn không khỏi lo lắng. Mara quàng thêm một chiếc khăn vải bông màu bạc với nhiều hoa văn trắng nhỏ của mẹ cô để lại. Hai người rời khỏi nhà nhưng không đi cắt qua làng nữa mà đi vòng qua nó để lên được khu rừng phía bắc; cô muốn tránh mắt những người quen biết. Họ cắt ngang qua những cánh đồng, nơi có một vài nông dân đang canh tác đất chuẩn bị cho mùa vụ đầu tiên của năm. Rồi họ đi qua một cây cầu nhỏ bắc ngang qua một nhánh sông không rộng lắm chảy từ thượng nguồn của khu rừng xanh bạt ngàn đó. Trên đường, Mara liên tục nhắc nhở về mấy lọ thuốc cô cất trong ngăn kéo bàn, còn Lucas thì lăm lăm cây rìu chặt củi vác từ nhà cô đi. Cắt ngang qua con đường đất, mạch giao thông chính nối giữa các vùng, và một dải đồng cỏ xanh mướt với một con suối nhỏ róc rách chạy dọc theo nó, hai người đã đến được bìa rừng.

Những chiếc lá non đã bắt đầu mọc tua tủa trên các rặng sồi xơ xác mà hùng vĩ, tuyết đã tan hết để lộ ra lớp thảm lá xẻ răng cưa vàng và đen đang mục ruỗng giữa tiết trời ấm dần của mùa xuân. Mặt trời đã đi về phía xa xa bên kia bầu trời, họ men theo con đường mòn xuyên qua bìa rừng. Lucas tranh thủ chặt và nhặt những cành củi khô trên đường vứt vào rọ.

“Đi hết bìa rừng rồi mà vẫn không gặp con ‘quái vật’ đó nhỉ?”

“Anh mong gặp nó đến thế cơ à?”

“Nếu anh ‘thịt’ được nó thì đỡ cho dân làng và em sẽ không phải lo lắng lúc về nữa.”

“Nó sẽ ‘thịt’ cả hai ta trước đấy, anh đừng tưởng bở!”

“‘Thịt’ anh đâu có dễ! Ít nhất cho đến khi nó xơi được anh thì có lẽ em đã chạy được về đến nhà rồi.” – Lucas nhe răng cười.

“Đừng có nói gở, em sẽ không tha cho anh nếu anh làm như vậy đâu đấy.”

“Lucas! Đến đây được rồi, em có thể tự đi vào nốt.”

“Em chắc chứ?”

“Cha cần có người ở nhà chăm sóc, xin anh hãy giúp em.”

“Được rồi!”

Lucas bỏ chiếc rọ đã được chất đầy củi khô xuống, thứ mà anh đã gánh giúp cô suốt cả đoạn đường đi.

“Và… chỗ thuốc trong ngăn bàn nữa, anh đã nhớ chưa?”

“Nhớ rồi mà, khổ lắm! Anh đâu có ngốc như em.” – cô lườm anh một cái ra mặt.

“Ah! Phải rồi.” – Lucas lấy ra trong túi quần một chiếc hộp nhỏ hình tròn vỏ đồng thau và chìa ra cho Mara xem. – “Em cầm lấy thứ này đi!”

“Nó là thứ gì vậy anh?”

“Hồi trước bác Bernard có cho anh mượn thứ này mà anh quên béng mất không trả. Anh chẳng còn nhớ nó gọi là gì nữa nhưng nó dùng để xác định phương hướng. Em cầm tạm lấy mà dùng đi.”

“Có được không anh?”

“Không sao, đừng làm mất nó là được.”

“Vâng!”

“Nhớ kỹ nhé, chiếc kim màu đỏ này luôn chỉ về hướng bắc, chiếc ngược lại là về hướng nam. Chỉ cần nhớ vậy thôi, nó sẽ giúp em về được nhà nếu em có đi lạc.”

“Chiếc kim đỏ là về hướng…” – cô lẩm nhẩm nhớ lại.

“Chiếc kim đỏ luôn về hướng Bắc, ngược lại sẽ là hướng Nam. Có khó nhớ lắm không?”

“Không, em nhớ rồi.”

“Được rồi, vì không biết khi nào em sẽ về nên anh không thể đón em được. Hết sức cảnh giác nhé!”

“Anh đừng lo! Em sẽ ổn thôi.”

“Nếu đụng phải con ‘quái vật’ đó thì vứt cái rọ lại mà chạy cho nhanh. Lúc đó hãy ra khỏi con đường mòn, đám cây sẽ làm nó chậm lại. Anh sẽ cầu nguyện thiên thần Melthiel phù hộ cho em.”

0

Related Posts

1 Comment

  • Hảo Posted at October 16, 2017 at 10:30 pm

    Gái ích kỉ nhốt người yêu vô hòm :)) thằng nhóc làm trò biến thái :)) what thể loại is this???

Leave a Reply

Site Menu