#23 Khu Rừng Đom Đóm

0

Tác giả: Nguyễn Lê Nam

 

Giới thiệu:  Đây là câu chuyện về những con đom đóm rực rỡ và toả sáng nhất, những con đom đóm từng chạm vào ánh trăng. Chỉ có một khác biệt duy nhất của chúng và đồng loại.

Chúng không biết bay.

 

Chương 1: Đom Đóm Nhớ Rừng

Tôi không dám nhìn thẳng về phía trước, trong một khoảng khắc nào đó, tôi biết từ bây giờ gánh nặng của tôi đã biến mất. Tôi sẽ không còn phải dính dáng tới ai nữa, sẽ không còn phải lo nghĩ nữa.

“Tớ sẽ đi du học,…”

Tôi khoác cặp sách lên vai, vờ như không thấy những chiếc máy bay mang theo bụi trắng vút lên cao.

“Tạm biệt” Do âm thanh tôi quá nhỏ, hoặc do tiếng động cơ quá lớn, tôi thậm chí còn không nhận ra mình đã thốt ra lời đó như thế nào, và thậm chí còn không chắc đó có phải là giọng của mình hay không.

…………….

Tiếng động cơ in ỏi vang lên bên tai, tôi cố gắng lờ nó đi bằng cách ngân nga một giai điệu trong đầu, nhưng tiếng ồn khó chịu kia vẫn đều đặn vang lên, chính xác là ở dưới gáy của tôi, bên dưới hàng ghế trống của toa tàu cuối cùng.

Tôi lên chuyến tàu sớm nhất trong ngày, ròng rã suốt mười mấy tiếng đồng hồ ở trên tàu hoả không làm cơ thể tôi suy nhược như tôi hằng tưởng tượng, ngược lại dường như sự ồn ào một cách rất quy trình này đã đẩy bản thân tôi vào một trạng thái vô thức.

Nơi mà tôi bị đắm chìm vào những dòng suy nghĩ miên man, mặc dù sau đó tôi sẽ vẫn bị âm thanh của tàu hoả kéo về thực tại, để rồi sau đó lại chìm vào trong vô thức. Cứ như một vòng tròn lặp đi lặp lại.

Lúc mới lên xe, tôi nghĩ về lý do của chuyến đi này rất nhiều, nhưng dần dà tôi cũng nhận ra là thật chất tôi chẳng có mục đích cụ thể nào cả.

“Thằng mất dạy, mày phải về quê ngay cho chị”

Tôi mở điện thoại lên xem lại tin nhắn cũ, tôi bấm vào mục trả lời ghi mấy dòng rồi xoá vội, sau đó lại nhét vào túi, rõ ràng đây không phải là lần đầu tiên tôi làm như vậy. Không chỉ lần này, mà cả những lần trước, rồi trước nữa, chưa bao giờ tôi trả lời tin nhắn của chị mình.

Nhắc tới chị, trong ấn tượng của tôi, chị là một người con gái ưa nhìn, và có lẽ là hơi mạnh mẽ, chị chưa bao giờ đánh tôi, hoặc cũng có thể chị đã rời nhà quá lâu tới mức những ký ức về chị trong tôi cũng dần biến đi đâu mất.

Tôi không sợ chị mình, rõ ràng, người ta không thể sợ một người mà mình không gặp mặt đã lâu, và thứ duy nhất liên kết giữa hai người là những tin nhắn một chiều không bao giờ được hồi đáp.

Tôi chỉ nhớ mang máng là chị bỏ nhà đi vì ước mơ nhiếp ảnh của mình, rõ ràng những lời khuyên và cả răn đe từ cha mẹ là không đủ để ngăn cản cô sinh viên kinh tế Luật năm cuối đang tràn đầy nhiệt huyết.

Chị không nói với ai tiếng nào mà chỉ đi chu du khắp nơi, lắm lúc tôi còn tưởng là chị đã chết rồi, tệ hơn, đôi khi tôi còn quên đi sự tồn tại của chị. Nhưng năm nào cũng vậy, vào cuối năm chị đều gọi về báo bình an, thi thoảng còn gửi vài món quà và mấy bức hình chị thấy ưng ý.

Rồi cũng không biết làm cách nào chị có số di động của tôi, thế là những tin nhắn với những nội dung giống hệt nhau được gửi tới theo một chu kỳ không cố định. Và cũng bằng một cách kỳ diệu nào đó, chị biết gần hết mọi vấn đề của tôi, và những tin nhắn được gửi tới vào khoảng thời gian đó đã ít nhiều giúp ích tôi.

Nhưng tôi cũng không phải là một người em tốt, tôi đã bỏ qua cơ hội gặp lại chị sau một khoảng thời gian dài đằng đẵng, mà sự việc đó cũng là lý do mà tôi ở trên chuyến tàu hoả sớm nhất chạy thẳng về quê.

Bà tôi mất.

Cũng như chị, tôi không sống cùng bà, cũng không có quá nhiều ký ức về bà. Thứ duy nhất tôi nhớ, là ở cái lần về quê đầu tiên, cũng là lần duy nhất. Bà thức rất khuya, xoã mái tóc bạc dài óng trên sàn, trên tường là bộ quần áo nữ sinh từ chế độ cũ còn ngay nếp.

Bà không nhuộm răng, không uống trà như những bà lão khác mà tôi thấy. Bà cũng không kể về thời xưa, hay kể chuyện cổ tích cho con cháu nghe. Bà là một người khá im lặng, với một nụ cười hiền từ, suốt ngày bà chỉ quanh quẩn quanh căn nhà thiếu tiện nghi dưới quê.

Thi thoảng bà thắp hương, thi thoảng bà xếp lại sấp lụa cũ chưa có dịp may thành áo, thi thoảng bà lại thở dài thật buồn bã với một nụ cười nhàn nhạt. Cũng có thể vì bà không giống như những bà lão khác nên tôi không bám theo vòi vĩnh bà bất cứ thứ gì.

Vô hình chung, giữa tôi và bà có một khoảng cách khó mà xê dịch. Sau này, đôi khi tôi nghe cha mẹ bàn về bà, nào là bà đã già yếu, nên chuyển lên thành phố, nào là căn nhà kia không tiện cho sức khoẻ của bà.

Nhưng bà vẫn nhất quyết không đi, tới tận bây giờ, tôi vẫn chưa thể hoàn toàn hiểu lý do tại sao bà lại không chịu rời bỏ vùng quê thiếu tiện nghi kia. Có phải chỉ vì câu “chôn rau cắt rốn” hay còn vì lý do nào khác sâu xa nữa.

Cuối cùng bệnh tình của bà trở nặng, người ta tìm thấy bà ngất xỉu sau gian bếp, ba mẹ lo lắng tới mức cấp tốc bắt tàu về quê. Thương con cháu, bà cũng quyết định ở lại đây, trong nhà của tôi.

Nhưng bà buồn lắm, tôi từng nghĩ mình hiểu lý do tại sao bà buồn, nhưng bây giờ thì tôi nhận ra mình chẳng hiểu gì cả. Bà cười nhiều hơn, nhưng lại thở dài sâu hơn, khi bà chải tóc bà thường ngó nghiêng xung quanh như tìm vật gì đó.

Thời gian bà ở nhà tôi, đối với tôi cũng không có gì quá đặc biệt, tôi ít khi nào nói chuyện với bà, cũng chả để tâm tới sức khoẻ của bà. Ngày tháng cứ bình bình trôi qua, cho tới khi bà qua đời, đêm trước bà bỗng nhiên tươi cười nhiều hơn, bà vào bếp nấu ăn, chuẩn bị cho tôi một phần ăn riêng, thứ mà tôi đã đổ bỏ vào đêm hôm đó.

Bà đi rất thanh thản, hay ít ra là tôi được kể như thế. Đêm hôm đó tôi cầm theo số tiền dành dụm bấy lâu nay, tham gia vào mấy cuộc vui mà tôi còn không rõ nó là cái gì. Tôi say xỉn, đập phá và chắc chắn là không có làm chuyện tốt lành gì.

Trong khi người nhà đang cuống cuồng lên thì tôi đang ngủ say như chết trên ghế đá của một công viên cách nhà khá xa, điện thoại và tiền bạc trên người đều mất sạch. Sau đó tôi đi về nhà, leo lên cái ghế sofa mà đêm qua bà nằm, đánh một giấc ngon lành.

Ai mà biết được lúc đó tôi nghĩ gì, ai mà nhớ được lý do ngày ấy tôi quyết định cầm tiền đi tiêu pha một buổi, chỉ biết khi tỉnh dậy, tôi gặp ngay ánh mắt giận dữ của cha mẹ và họ hàng. Sau đó tôi vào phòng khoá trái cửa và ngủ một giấc nữa.

Hôm đám tang bà tôi cũng không tham dự, tôi quên béng chuyện đó và một lần nữa tỉnh dậy ở một nơi không phải nhà mình. Cả lúc chôn cất bà, tôi cũng không xuất hiện. Chị tôi khóc rất nhiều, mẹ tôi bảo thế rồi chỉ vào mặt tôi mà mắng chửi.

Tôi, không việc làm, ở nhà cha mẹ, không có một chút ích lợi nào cho xã hội này. Giờ nghĩ lại, tôi không phải phải là một người em tồi, mà còn là một người con tồi và một người cháu chẳng ra gì.

Hai mươi tuổi, ở cái độ tuổi mà con người ta hoặc là đang theo đuổi ước mơ của mình, hoặc là đang ngồi trên giảng đường đại học. Thì tôi lại sống một cuộc đời chả ra gì, nghĩ học từ lâu, sớm đã quên mất mình thích thứ gì và giỏi thứ gì.

Tôi bị đuổi ra khỏi nhà, một cách thẳng tay. Tôi cũng không hề có một cảm xúc nào quá đặc biệt giống như cầu xin hay giận dữ hét toáng lên. Tôi về nhà với hơi men, cha mẹ ngồi sẵn trong phòng ngủ với hành lý soạn sẵn.

Thế là tôi đi.

Cho tới khi tôi nhận được vé tàu hoả cùng với tin nhắn từ chị. Gần như là không suy nghĩ, tôi bắt đầu xuất phát.

Mọi thứ cứ mơ mơ màng màng như thế. Lắm lúc tôi còn tưởng là mình đang say xỉn, có khi là say từ rất lâu rồi, mà cơn say đó tồi tệ đến mức bất cứ chuyện gì xảy ra cũng không mang tôi về lại thực tế. Lần cuối cùng tôi tỉnh dậy với một tinh thần sảng khoái, cũng là cái ngày mà tôi quyết định làm cái chuyện điên khùng huỷ hoại tương lai của chính mình.

Thật ra cho tới bây giờ tôi cũng chưa hề nghĩ mình sai, rõ ràng dù thời gian mạnh mẽ tới đâu thì vẫn phải bó tay trước một thằng cứng đầu và chả ra gì.

Lại là những bài nhạc từ thập niên trước. Con tàu mà tôi đang đi thể hiện rõ ràng bản chất lạc hậu của nó khi cứ phát đi phát lại mấy bản nhạc từ những năm 2000.

Cái năm mà theo cha mẹ kể lại thì, đó là một năm vô cùng đặc biệt. Đứng trước nút giao giữa thiên niên kỷ, con người bước những bước đầu tiên trên con đường thay đổi thế giới của mình, tất nhiên là một lần nữa. Những nhà máy được xây lên hàng loạt ở quê tôi, khói độc và nước thải được thải thẳng ra môi trường.

Cả cha và mẹ tôi đều tin chính sự xuất hiện của những nhà máy kia đã khiến sức khoẻ của bà trở nên tồi tệ hơn, dù rằng trước đó bà vẫn đang vật lộn với hai mảnh đạn chì ghim vào trong cơ thể từ hồi chiến tranh.

Những nhà máy xây cao, cây cao thì đổ xuống.

Quê hương tôi tự thay cho mình một bộ mặt mới, dù vẫn còn rất lạc hậu nhưng nó cũng đánh mất đi vẻ tự nhiên ban đầu. Những khu rừng mất đi, không khí bị ô nhiễm khiến cho những con đom đóm, thứ mà có lẽ là nét đặc trưng nhất của quê hương tôi thưa dần. Trong ký ức của tôi, đom đóm chỉ xuất hiện một cách lẻ tẻ, lấp lánh thứ ánh sáng vốn đã bị lấn át bởi đèn điện, đom đóm cứ thế vẫy đôi cánh mệt mỏi của mình rồi lại rơi lả tả xuống đất.

Cha không nói gì cả, ông chỉ phàn nàn về không khí của quê hương. Từ nhỏ, cha tôi đã theo ông tôi lên thành phố, nên những con đom đóm lập loè kìa hẳn cũng rất xa lạ với ông.

Có lẽ số phận đã mang những đứa trẻ như chúng tôi rời khỏi quê hương của mình, trước cả khi chúng tôi kịp yêu lấy chúng. Giống như cách số phận vội vàng mang đi những thứ mà chúng tôi chỉ vừa nhận ra là mình yêu chúng.

Xe lửa chạy chậm dần, tiếng tàu hú to báo hiệu cho một lần chuyển ga nữa. Tôi đặt tay lên tấm kiếng mờ vì bụi bẩn, ở đằng sau nó là cả một cánh đồng lúa xanh bát ngát. Xa xa có núi cao, trời thì lúc nào cũng quang mây tạnh gió. Những con trâu nhàn nhã gặm cỏ trên cánh đồng xanh bát ngát là cảnh tượng mà có lẽ là cảnh tượng khó mường tượng nhất với một đứa trẻ thị thành.

Những khuôn mặt non chẹt tròn mười, mười hai của bọn trẻ chăn trâu khác hẳn với những gì tôi tưởng tượng. Những nụ cười hồn nhiên đến lạ, chúng tôi, những kẻ đã lạc mất mình trong đô thị đã mất đi những nụ cười như thế từ lúc nào?

Nhìn những bàn tay nhỏ xíu của bọn nhỏ khi quệt lên khuôn mặt cháy đen vì nắng, phút chốc tôi thấy mình bần thần. Tiếng thở dài trước nối tiếng thở dài sau, tôi phải xác định là mình đã rời thành phố được một quãng rất xa rồi.

Sẽ không còn những chai rượu đắt tiền được khui ra mọi lúc mọi nơi, sẽ chẳng có những bao thuốc lá mà tôi cứ châm lửa đốt trong vô thức.Không còn rất nhiều thứ, những thứ mà tôi nghĩ là mình sẽ chết đi nếu không có nó.

Cuộc đời tôi rồi sẽ ra sao?

Câu hỏi ám ảnh tôi mỗi đêm khuya lại quay về. Nó làm cho tôi cảm thấy thật áp lực, nếu không còn xài tiền được nữa, không còn đắm mình vào những thú ăn chơi trác táng thì tôi có thể sống thêm bao lâu nữa. Cái cảm giác xa lạ này đến quá nhanh, nhanh tới mức tôi gần như đã lạc mất mình.

Không ai bảo tôi phải làm gì, không một lời khuyên. Không có một thứ gì gần gũi để tôi có thể dựa dẫm vào. Tôi liệu sẽ chịu đựng được cuộc sống không tiện nghi bao lâu? Liệu tôi có thể khiến con quái vật trong mình ngủ yên, để có một cuộc sống trọn vẹn hay không.

“Nó gần như là tệ nhất, con trai à. Cái cảm giác con không biết chuyến tàu này sẽ đưa con tới đâu” Tôi giật mình, không biết bên cạnh tôi từ lúc nào đã có một ông lão[.

Ông lão mặc một bộ veston khá cũ kỹ, ông đeo một chiếc kính lão màu vàng, trên tay ông có một tẩu thuốc lá loại cũ, cái loại mà người ta đã thôi dùng kể từ sau giải phóng.

“Mười bảy tuổi, ta cảm thấy cuộc đời này thật tồi tệ. Ta ngồi trong nhà, căn nhà khuất sau dãy núi cao và chửi thề mỗi ngày. Ta muốn đi ra khỏi dãy núi kia, ta muốn nhìn cách thế giới này vận hành, còn lại những thứ khác ta mặc kệ. Ta không thèm đi học, đánh cả thầy đồ, đẩy người con gái ta yêu ngã gãy chân. Rồi mặc kệ cha mẹ đang đuổi theo mình trong một đêm đầy mưa gió, ta cứ thế bỏ đi. Vì ta tin rằng cuộc đời của ta sẽ nằm ở bên ngoài dãy núi, ta tin rằng mình sẽ thay đổi được cuộc sống của những người bên trong dãy núi, ta tin là chỉ có ta mới làm được”

Tôi không trả lời, để mặc cho cụ ông nói tiếp. Ông rít một hơi thuốc, khói trắng từ miệng ông nhả ra mang theo mùi vị của thuốc lá rê loại cũ, rất hôi và nồng nặc.

“Ta đã thành công, ta ở trên chính con tàu này vào ngày ta đi. Tham gia vào quân đội, trở thành thằng lính lỳ nhất, gan nhất. Ta bắn, ta giết, ta làm tất cả những thứ tồi tệ nhất với cái lý tưởng cao cả của mình. Ta nghĩ rằng việc giết người khác chính là để bảo vệ đất nước. Tất nhiên ta đã lầm, ngày ta về quê lần đầu tiên, tuổi ta tròn hai mươi. Ta luôn là một thanh niên cao ngạo tự cho rằng mình đã hiểu hết mọi mặt của chiến tranh. Nhưng giống như người xưa từng nói, trèo càng cao, té càng đau. Khi ta về tới nhà, ta mới bàng hoàng nhận ra ngôi làng của mình, nằm ở phía bên kia chiến tuyến”

Lão già cười một cách mỉa mai.

Ôi chiến tranh, dân tộc này sinh ra đã chìm trong chiến tranh. Từ ngày còn nhỏ, con người ở nơi này đã phải học một bài học sắt máu, rằng chỉ có chiến đấu mới bảo vệ được quê hương của mình. Ngày qua ngày, tháng nối tháng, đời này tới đời nọ dân tộc này vật lộn hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác.

“Chiến tranh về cơ bản là sự xung đột của hai phe. Mà sự xung đột đó phần nhiều bắt nguồn từ sự xung đột về lý tưởng của những người lãnh đạo. Tất cả những gì người lính như chúng ta biết là, cầm súng lên và chiến đấu cho phe của mình. Ta đã tin vào lý tưởng đó, từ lúc rời khỏi nhà cho tới lúc về nhà. Ta về lại nơi ta sống, xông thẳng vào nhà của người con gái ta từng yêu, người vốn đã lấy một sĩ quan phe địch. Ta xả súng giết cả nhà họ, đồng đội ngăn ta lại, mọi người ngăn ta lại nhưng rồi tiếng súng lại nối liền với tiếng súng”

“Chúng ta đã giết sạch cả làng. Họ chẳng làm gì cả, họ bên ta từ lúc ta còn nhỏ, chăm lo cho ta, họ là những người nông dân tốt bụng, rồi ta lại nhớ tới hằng hà vô số những ngôi làng khác mà chúng ta từng tham chiến. Họ có thể cũng là những người tốt như dân làng của ta. Nhưng lỗi là của chiến tranh, con người vốn không có lỗi, hay ít ra chính cái suy nghĩ ích kỷ của ta đã khiến ta nghĩ như thế”

Ông lão ho sặc sụa vì bị sặc thuốc. Tôi không hiểu những gì ông nói, đó là sự thật.

Con người liền với con người, đó là một lý tưởng cao đẹp thế nào. Nhưng chiến tranh lại chia cách con người, tôi hiểu điều đó. Những thứ chính trị cao vời, tôi không phải là người hiểu rõ. Nhưng từ ông lão, ít ra tôi đã có thể biết về một mặt khác của chiến tranh.

Tôi từng thắc mắc, tại sao những người nước ngoài từng chỉa mũi lê về phía chúng ta lại quay về và xin lỗi. Và chúng ta vẫn tha thứ cho họ, nhưng giờ thì tôi đã tạm hiểu.

“Ta lên chuyến xe lửa này, đúng chỗ cháu ngồi. Ta sờ tay vào mặt kính đục ngầu, xe lửa băng qua những cánh đồng xanh ngát, nơi ta nhìn thấy những đứa trẻ bé hơn ta đang chăn trâu vui đùa, ta cũng thấy những đứa ngồi thơ thẫn nhìn về phía xe lửa, xuyên qua cả dãy núi cao đằng sau. Lúc đó ta chợt nhận ra, mình hết mục đích sống. Ta đi để làm gì? Ta cứ thế bần thần nhìn ra ngoài, trong phút chốc ta đã lầm tưởng hai vai mình đang đeo chì, thật kỳ lạ. Rời khỏi nơi này vào ngày ta tuổi hai mươi, đến giờ khi về lại thì cũng đã ngót nghét bảy mươi năm”

Tôi nhìn về phía ông lão trước mắt, ông nhìn vẫn còn khá khoẻ mạnh. Những vết chân chim tuy đã in rất sau vào hai viền mắt của ông lão, nhưng đôi mắt đen láy của ông vẫn còn rất sáng.

“Con chẳng hiểu gì cả, ông ạ. Con không sinh ra ở thời chiến, con biết ơn những người đã nằm xuống để bảo vệ mảnh đất này. Nhưng thật sự con chẳng biết gì cả. Tất cả những gì con trải qua cho tới giờ đều chẳng là gì so với ông”

Ông lão chỉ cười, không nói gì thêm.

Ông vỗ vai tôi, nụ cười hiền lành của ông làm tôi ấn tượng mạnh.

“Xin lỗi vì đã làm phiền con. Một ông lão vốn chỉ muốn có người bên cạnh như ta, thật sự là không kiềm lòng nỗi trước ánh mắt của con, nó làm ta nhớ tới cái ngày trẻ dại đó”

Tôi cười đáp trả. Hai chúng tôi im lặng, rồi ông lão cũng rời đi khi tàu dừng ở ga.

Tôi không xuống, từ đây về quê tôi còn cách hai lần đổi tàu nữa.

Tôi ngã người ra ghế, mắt nhắm nghiền nhưng lại không thể nào ngủ được.

Trong ảo giác, tôi dường như thấy một người lính trẻ đang cố cắt những giọt nước mắt cuối cùng qua ô cửa kính.

………………..

Trong câu chuyện cổ tích tôi nghe từ mẹ, đom đóm là một loài vật rất kỳ lạ. Lấp lánh nhưng lại xấu xí, dũng cảm nhưng lại phiền nhiễu.

Xưa ơi là xưa, người ta đuổi đom đóm đi vì thứ ánh sáng lập loè của chúng trong đêm tối chẳng khác gì những con ma trơi xui xẻo. Cũng có người thương cho phận đom đóm, cuộc đời cứ toả sáng để làm rực rỡ bầu trời nhưng rồi cũng yếu dần rồi tắt đi trong thời gian.

Mẹ kể, đom đóm vốn là một con côn trùng xấu xí, nó chẳng có gì là đặc biệt cả. Nó bị mọi người xa lánh, khi loài nhọng thì có thể lột xác thành bướm, khi con loài ong thì có sự kiên nhẫn và chăm chỉ. Đom đóm dường như chẳng có gì đặc biệt cả.

Nó khát khao muốn thay đổi mình, nó muốn trở thành một con côn trùng được chú ý.

Thế là con đom đóm muốn bay thật cao lên trời, nó muốn bay tới mặt trời và mượn thứ ánh sáng kỳ diệu của mặt trời để làm nổi bật, nhưng cánh nó không đủ nhanh và mạnh để lên tới mặt trời. Nó chỉ bay lên được tới mặt trăng, thứ ánh sáng u buồn của đêm khuya không phải là thứ ánh sáng mà nó muốn.

Nó rơi xuống đất, mệt mỏi và tuyệt vọng.

Bầy ong chế giễu nó, con bướm coi thường nó.

Đôi mắt nó nhìn lên mặt trăng. Thế là nó hỏi mặt trăng.

Mặt trăng ơi? Sao cô chẳng có gì đặc biệt hết vậy, sao cô lại toả ra thứ ánh sáng u buồn của mình khi mọi vật đều đã nghỉ ngơi. Rồi khi mặt trời tới, cô lại ẩn mình sau nét xanh biếc của bầu trời.

Muôn thú làm thơ ca ngợi mặt trời, chẳng ai ca ngợi mặt trăng.

Muôn thú biết ơn vì mặt trời đã cho chúng sự sống.

Mặt trăng không trả lời đom đóm, mặt trăng chỉ nhẹ nhàng đóng mắt lại. Tắt đi cái thứ ánh sáng u buồn đó, bỗng chốc cả bầu trời sập tối, những vì sao mất đi mặt trăng chiếu sáng trở nên ảm đạm và tắt đi.

Muôn thú hoảng loạn, vì bầu trời trở nên tối đen. Không ai nhìn thấy ai cả, tất cả những gì mọi người cảm nhận được là sự hoảng loạn, họ chỉ mong mặt trăng xuất hiện trở lại. Mong mặt trăng chiếu ra thứ ánh sáng u buồn của mình, để cho muôn vật được nhìn thấy nhau.

Vì muôn thú biết, nếu không sống được qua đêm thì ánh sáng mặt trời cũng không còn ý nghĩa gì cả.

“Nếu ai cũng người tốt, thì ai sẽ là người xấu
Nếu sinh vật nào cũng xinh đẹp, thì xinh đẹp còn ý nghĩa gì nữa
Không có mặt trời, mặt trăng sẽ không thể toả sáng, không có mặt trăng thì các ngôi sao cũng tắt đi.
Nếu tôi cùng tranh ánh sáng với mặt trời, thì lấy ai soi sáng trời đêm u tối cho các bạn đây”

Con đom đóm nhận ra lời mặt trăng nói, nó như tỉnh ngộ.

Nó bay lên thật cao, mong chạm được tới mặt trăng. Nhưng sao lạ? Mỗi lần nó gần mặt trăng, mặt trăng lại như xa đi. Rõ ràng là lúc trước mặt trăng ở ngay trước mắt nó, sao bây giờ lại lạ như thế. Đom đóm được khuyên hãy bỏ cuộc, và tìm thứ ánh sáng khác thay thế mặt trăng, giống như cách nó từng muốn dùng mặt trăng thay thế mặt trời.

Đom đóm chỉ lắc đầu, nó cứ bay mãi.

Rồi không biết bao nhiêu năm tháng qua đi, nó tìm thấy mặt trăng. Nó được chạm vào mặt trăng.

Mặt trăng chuyền cho nó thứ ánh sáng vàng u buồn nhưng lấp lánh, như một món quà dành cho kẻ kiên nhẫn và dũng cảm nhất.

Đom đóm mãn nguyện, nó rơi xuống đất, toàn thân nó toả ra thứ ánh sáng tuyệt mỹ như sao. Muôn thú bị choáng ngợp trước vẻ đẹp đó, họ cũng muốn mình có thứ ánh sáng như đom đóm.

Nhưng đom đóm rơi xuống và chết, chết sau khi đã vắt kiệt cuộc đời mình để toả sáng. Muôn thú sợ hãi, từ đó bọn chúng không muốn toả sáng như đom đóm nữa.

Cũng từ đó, đom đóm mang trong mình thứ ánh sáng u buồn của mặt trăng, thứ ánh sáng mà bọn nó dùng cả đời để châm lên.

Thứ ánh sáng của tuổi trẻ.

Mẹ luôn kể cho tôi câu chuyện đó khi cả hai chị em còn nhỏ, và câu nói sau cùng của mẹ luôn là.

“Đừng bao giờ sống như một con đom đóm. Đừng bao giờ ngu ngốc như thế”

Một đứa trẻ tí tuổi như chúng tôi thì làm sao hiểu được ý nghĩa của câu chuyện, càng không thể hiểu ý nghĩa câu nói của mẹ. Tại sao? Chẳng phải mẹ muốn chúng tôi hết mình như một con đom đóm sao? Chẳng phải mẹ muốn chúng tôi bỏ qua khó khăn và phấn đấu vì ước mơ của mình.

Chị hai, một cô bé mười tuổi bật khóc khi nghe câu nói của mẹ. Chị chạy đi kể cho ba nghe, ba chỉ xoa đầu chị không nói gì thêm.

Tôi thấy ông thở dài, nhìn vào chiếc máy ảnh rất cũ để trên đầu tủ, thứ mà khi xưa ông thường nhìn chằm chằm mỗi khi suy nghĩ.

Mãi tới khi chị hai đã lớn, ba mới trả lời cho chị hai.

“Con đừng ngu ngốc như thế. Đừng bao giờ để bản thân mình như con đom đóm”

Đó cũng là lần cuối cùng chị hai nói chuyện với ba mẹ. Những năm sau đó, chị trở thành một con người trầm tính, và vào một ngày lạ trời nào đó. Chị rời khỏi nhà mà không hề tạm biệt.

Tôi không hiểu vì sao những câu chuyện đó ùa về. Ký ức về chị hai và ba mẹ bỗng chốc hiện lên. Tôi không chống trả nó, bỏ mặc cho những cảm xúc hỗn loạn đang công kích bản thân mình.

“Đây là trạm cuối rồi, xe buýt không đi sâu hơn nữa được đâu. Con phải bắt xe ôm vào, hoặc đi bộ tầm nửa tiếng. Tới cái bảng ghi tên thị trấn thì con cứ hỏi người dân ở đó là được. À mà, con tới đây du lịch phải không?”

Tài xế xe buýt quay đầu sang hỏi tôi. Trên chiếc xe buýt cũ kỹ hư điều hoà, chỉ có hai người phụ nữ với khuôn mặt cau có, một người đàn ông ngủ như chết ở hàng ghế sau và tôi.

“Dạ không? Con về quê ạ” Tôi đáp lại.

“Cũng phải, ai lại đi du lịch ở cái xứ chim không thèm đậu này. Tốt nhất là con kiếm tạp hoá mua ít đồ dùng cá nhân đi, bên trong không có cửa hàng đâu. Dân ở đây toàn tự trồng, tự ăn, hiếm lắm mới ra thị trấn lớn đi chợ” Người tài xế nhìn tôi với khuôn mặt suy tư, trên cái khuôn mặt sần sùi của bác tài xế hiện lên vẻ trầm ngâm.

“Dạ con biết rồi. Cảm ơn bác ạ?’ Tôi khoác hành trang trên tay rồi xuống xe.

“À mà, con đừng có dại dột mà vào trong rừng nhá. Ở đó khá là,…”

“Chạy nhanh đi ông già” Người tài xế toan nhắc nhở tôi gì đó, nhưng một trong hai người phụ nữ phía sau đã bắt đầu hối thúc.

Bác tài xế chỉ cười rồi lái xe chạy đi. Chiếc xe buýt dần khuất bóng sau những hàng cây rũ lá xanh ngát.

Quê hương tôi nằm trong một vùng hoang sơ, từng là điểm nóng của chiến tranh. Sau chiến tranh, không có ai bỏ tiền đầu tư vào một vùng đất nghèo hèn, không thể trồng cây gì có năng suất cao.

Vài chục năm sau đó, khi các nhà máy bắt đầu xuất hiện. Nơi đây cũng bắt đầu có xe, có điện. Thi thoảng có nhà còn có có vô tuyến, nhìn chung ở đây cũng không tới mức lạc hậu nhưng để so được với thành phố thì không thể.

Tôi rảo bước trên con đường mòn dài đằng đẵng, trước mắt tôi chỉ có những hàng cây già rủ những cành lá nặng nề xuống, nắng chói chang chiếu xuống mặt đường mòn. Con đường lổm chổm này vốn rất kỵ xe máy, mà cũng chẳng có chiếc xe nào dám đi vào con đường thô sơ này.

Tôi không nhớ được hồi xưa ba mẹ dẫn tôi đi qua con đường này được.

“Mẹ ơi, quê mình đẹp quá”

Tôi như nghe thấy tiếng chị mình đang nói, khung cảnh trước mắt sao lại quen mắt tới thế. Cứ như chúng tôi đã từng đi con đường này hàng trăm ngàn lần. À nhớ ra rồi, chính cây sồi già ở bên kia đường là nơi chị hai đã chạy tới rồi thốt ra câu đó. Sao tôi lại nhớ ra được nhỉ?

Sao tôi lại nhớ ra những ký ức diễn ra từ hồi tôi còn trẻ nít.

Cả ngôi chùa nhỏ nằm xa tít trên ngọn núi bên tay phải, dãy đá lở ở ngọn núi bên tay trái. Rồi rất nhiều thứ nữa.

Tôi đang mơ, hay tôi đang sống lại thời trẻ thơ.

Đôi mắt ngây ngô của một đứa trẻ đã từng nhìn qua những cảnh tượng này và lưu nó vào đầu ư? Sao tôi không nhớ gì về nó cả, để giờ khi quay lại, tôi cảm thấy không gian xung quanh hiền diệu và quen thuộc đến thế, tôi có ảo giác cả vùng đất đang ôm tôi vào lòng, có ảo giác rằng kẻ đang đi là một đứa trẻ ngây thơ, không phải là một đứa cháu bất hiếu, đứa con tệ và người em tồi.

Một người bạn trai khốn nạn nữa.

Tiếng gió ríu rít bên tai như tiếng sáo ru tôi vào giấc ngủ trưa êm đềm. Bầu trời như giương bàn tay nhân từ của nó ôm lấy những đứa con của mặt trời, còn nắng thì chiếu lên da của tôi. Để lại đó nước da ngâm ngâm đặc trưng của người nhà quê.

Ở thành phố, họ ghét nắng. Người ta bịt kín mặt mũi của mình vì sợ nắng ăn đi lớp da vàng, thứ mà họ luôn muốn nó mang màu trắng.

Họ cũng ghét gió nữa, họ sợ gió sẽ thổi bay chiếc điện thoại của họ. Sợ gió thổi lọn tóc đen của họ vào mắt, khiến họ khó bấm điện thoại hơn.

Trong con đường dài như thế, tôi đi mà không biết mệt. Tôi đi mà đôi chân hưng phấn muốn âu yếm mọi tấc đất, tại sao lại lạ tới thế? Tại sao những bước chân của tôi không cảm thấy thế trên những sàn đá hoa cương, hay thảm đỏ dẫn vào những nơi đắt tiền.

Đất là gì? Đất chỉ là đất, để đi và để ở. Nó xấu xí và lấm lem như thể đứa con hoang của tự nhiên. Thế mà sao bây giờ nó trông đẹp như thể một dãy màu hoàn mỹ trong một bức tranh cổ.

“Mày là thằng mất dạy, là nỗi sỉ nhục của gia đình này”

“Cậu là một thằng khốn nạn, những gì mà cậu gây ra sẽ chẳng bao giờ được tha thứ”

“Tôi, không phải là một người tốt”

Chà, những lời nói cay độc kia từng làm tôi đau lòng biết mấy. Giờ vẫn thế, nhưng bây giờ là vì tôi cảm thấy có lỗi với họ, có lỗi vì chưa một lần nói lời xin lỗi.

Tôi dừng chân ở một gốc cây lớn, lưng dựa vào nó mặc cho hành lý vướng víu trên người.

Chị đã từng đi qua con đường này với cảm giác thế nào? Có phải là những dằn vặt vì tội lỗi, nỗi buồn vì những lời nói sắc như dao lam, hay cảm giác nhẹ nhõm vì đã trốn thoát tất cả.

Chị bị cảm giác nào chiếm hữu.

“Ngươi uống nước?” Tôi bị giật mình, khi mở đôi mắt đang thiu thiu của mình. Tôi thấy một cô gái trẻ, da cô hơi ngăm ngăm, mái tóc dài đen nhánh được tết lại cẩn thận. Cô mặc một bồ trang phục đơn giản, khuôn mặt cô không đẹp nhưng lại rất hiền dịu.

Cô chìa cho tôi một ống tre lấy từ chiếc giỏ đan bằng nứa chứa đầy đồ thổ sản phía sau.

“Hả?”

“Ta hỏi ngươi uống nước không? Trời nóng lắm, uống nước đi” Cô gái trẻ nở nụ cười với tôi, cô ta trông cũng chệch tuổi tôi, nhưng hai bàn tay thì đã chai sần mất rồi.

Cái giọng người dân tộc nghe hơi buồn cười với trai thành phố như tôi, nhưng tôi biết mình không thể cười lúc này.

“Cảm ơn” Tôi nhận lấy ống tre từ tay cô gái, phải mất một lúc loay hoay tôi mới mở được ống tre ra. Vốn đã khát, tôi nốc một ngụm thật nhiều vào miệng.

Ôi ngọt và mát quá.

Đây chỉ là nước lả mà sao lại thơm ngon tới thế? Hay là do tôi vốn đã khát từ đầu.

“Nước suối đó? Ngon ha” Nhìn thấy vẻ mặt bất ngờ của tôi, cô gái trẻ nói.

“Ngươi là ai? Đi đây mần chi” Cô gái phủi phủi một hòn đá lớn rồi ngồi lên.

Tôi vẫn chưa hết bất ngờ về câu hỏi, thì đã bị cuốn vào trong đôi mắt to sáng rực như ngọn đuốc của cô gái dân tộc.

“Tôi về quê á? Người ta chỉ tôi vào thị trấn, nói là đi đường này. Cô có biết thị trấn đó không?” Tôi vừa nói vừa ra hiệu bằng tay vì sợ cô ta không hiểu được ý của mình.

“Ngươi mần cái chi, trông mắc cười thế. Nói bình thường thôi” Tôi xấu hổ, rút tay của mình lại.

“Tôi hỏi cô biết cái thị trấn nào trong đây không?” Cô gái dân tộc nở nụ cười đáp trả, tiếng cười giòn như tiếng chuông bạc.

“Biết, ta sống ở đó mà? Ngươi là ai?” Cô gái vui tươi nói.

“Tôi về nhà bà ở một thời gian. Cô cũng ở đó, thì coi như mình cũng quen biết. Cô có thể dẫn tôi tới đó không?” Tôi cảm thấy cô gái trước mắt rất thân thiện, nghe thấy đề nghị của tôi, cô lập tức gật đầu.

“Cũng được. Ta tên là Đinh Thị Ngọc Yến, còn ngươi?”

“Gọi tôi là Vũ là được rồi. Tên cô đẹp quá đó, nghe như tên của người thành phố vậy”

Nụ cười trên miệng cô gái dần khép lại, nhưng cô vẫn giữ bộ mặt thân thiện của cô. Cô ta đứng dậy đi trước rồi ra hiệu cho tôi đi theo.

“Từng thôi’

Cô gái đi phía trước, giọng hát một khúc ca du dương mà tôi nghe rất quen tai, giọng điệu du dương của cô gái khiến tôi bất giác giật mình.

Cô ta đi trước, tôi đi sau.

Sâu vào trong rừng, sâu vào trong những riêng tư không thể nói thành lời.

……………..

Sau khi về tới nhà với sự hướng dẫn vô cùng tận tình của Ngọc Yến thì tôi phải đối mặt với một trong những việc rắc rối nhất trên đời.

Dọn dẹp.

Căn nhà một gác không có lầu vốn đã trải qua rất nhiều lần sửa chữa nay lại trở về với cái dáng vẻ sập xệ của nó. Lớp mái ngón đỏ ngày xưa đã hư hỏng từ lâu và được thay thế bằng một tấm tôn. Cánh cửa gỗ mục nát được cố định lại bằng mấy thanh sắt. Căn nhà không lớn, chỉ đi chừng chục bước chân là hết lại một lần nữa kéo tôi về với những hồi ức trẻ con.

Tôi từng tự hỏi không biết vì sao bà có thể sống trong một căn nhà sập xệ đến thế. Trái ngược hoàn toàn với ngôi nhà khang trang đầy đủ tiện nghi của ba mẹ.

Vốn đã quen với một thành thị, nơi đầy những ngôi nhà cao với cửa kính sáng loáng. Thoáng cái tôi đã ở trong một ngôi nhà chỉ có một chiếc gương đồng nho nhỏ sau nhà tắm. Phòng tắm không có vòi sen, chỉ có một lu nước để cạnh một vòi nước đã hoen gỉ. Tôi thử vặn vòi, một hồi lâu sau từ đó mới chảy ra thứ nước đầy phèn.

Rất may mắn là điện đóm vẫn hoạt động rất tốt. Nhưng đồ điện trong nhà thì đã hư hết cả rồi, chỉ có mấy cái bóng đèn là còn hoạt động được, nhưng chúng nó cũng thi nhau tắt lên tắt xuống.

Nhà cửa tuy không rộng rãi, như bà có một khu vườn rất lớn nằm ở sau nhà. Do không trồng gì cả nên ngoài vườn giờ toàn là cỏ dại. Tôi bỏ hành lý ra một bên cũng không thèm soạn quần áo ra. Tôi ngả người ra chiếc phảng bằng gỗ cũ thở một hơi dài. Cây quạt máy cũ kỹ vừa chạy vừa phát ra thứ âm thanh ồn ào khó chịu.

Tôi vươn vai đứng dậy, mở toang cửa sổ ra. Một luồng gió trong lành bỗng dưng luồng vào từ cửa số. Cả cơ thể tôi khoan khái vì mát. Tôi đứng dậy tắt đi cây quạt đi sau đó mới an tâm đi nằm.

Tôi ngủ một giấc tới tối. Khi tôi mơ màng tỉnh dậy thì bên ngoài trời đã chuyển sang đêm, bầu trời đầy sao trong vắt như một tấm lụa đen được thêu lên những hoạ tiết tinh tế. Tôi ngồi vồm dậy, gác tay ra ngoài cửa sổ. Trên cái gác bừa bãi của ngôi nhà, tôi hứng lấy gió, như hứng lấy những giọt mưa đang rơi lả tả lên mặt mình.

Khung cảnh đêm khuya thanh vắng tới lạ. Ngoài tiếng ve kêu, thi thoảng chỉ vang lên mấy tiếng chó sủa. Những ngôi nhà xung quanh tắt hết đèn, chỉ có thứ ánh sáng lờ mờ từ trăng là soi sáng trời đêm. Tôi nhớ tới những đêm ở thành phố.

Nhớ tới những ánh đèn lập lèo đỏ xanh kèm theo tiếng nhạc rát cả tai. Hay những chiếc đèn điện luôn được bật và chỉ tắt vào lúc năm sáu giờ sáng.

Giờ sao lạ quá, quanh đây chẳng còn ai. Chẳng có ai ở đây là người bước ra từ quá khứ của tôi cả, những giọng nói qua loa máy tính trở thành một thứ âm thanh xa lạ mà tôi khó tưởng tượng được. Tôi bỗng nở một nụ cười, cố gắng làm mình cười, một nụ cười khô khan.

Lúc trước, mỗi lần muốn cười với ai, người ta chỉ việc dùng những biểu tượng cảm xúc. Trông dễ dàng và đáng yêu biết mấy.

Trước giờ tôi chưa bao giờ nhìn ra bên ngoài lâu đến thế. Tôi mở cửa, ra đứng ngoài ban công đầu vẫn ngẩng lên nhìn bầu trời tuyệt đẹp. Quê hương tôi vậy mà vẫn đẹp như thế, đẹp như những bức hình mà tôi thường xem trên mạng. Tôi cứ ngỡ mình phải đi rất xa để đến những nơi đó.

Nhưng bây giờ tôi nhận ra, mình không cần phải đi xa như thế.

Tôi đã luôn nhìn cuộc sống xung quanh vận hành qua những pixels. Nghe thấy tiếng của mọi người qua những âm thanh được sửa chữa lại từ máy tính.

Tôi đã quen như thế. Bây giờ không còn như thế nữa làm tôi thấy lạ, tôi như một kẻ lạc loài chưa quen với phong tục của vùng đất mới. Tôi đã từng nghĩ cuộc sống sẽ trở nên rất nhàm chán khi không có wifi, nhưng bây giờ tôi vẫn sống tốt đấy thôi. Không tạp âm hay hình ảnh nào có thể ảnh hưởng tôi, cảm xúc của tôi cũng không thể bị quấy nhiễu bởi cái tín hiệu chập chờn lúc mạnh lúc yếu.

“Em nghe nè” Tôi mở điện thoại lên thì nhận được điện thoại từ chị hai.

“Tới nơi chưa vậy? Mấy bữa nay chị ở nước ngoài, không gọi cho em được” Tiếng chị hai nghe rất vui vẻ, giọng của chị hai ngọt như một viên kẹo.

“Em tới rồi, vừa tới nơi chiều nay. Cũng vừa đánh một giấc ngon lành, mở mắt ra thì đã khuya mất rồi” Tôi nhỏ giọng trả lời, tôi không muốn phá hỏng không gian yên ắng của nơi này.

“Mới có tám giờ à anh hai? Em ấm đầu à, mà cũng phải thôi. Cái giờ mà em đi ngủ trên đây, là cái giờ mà người ở đó bắt đầu thức dậy đi làm” Tôi không tin, sau khi nhìn đồng hồ từ điện thoại mới thấy ra là mới có tám giờ thật. Mới có từng đó giờ thôi mà nơi đây đã im lặng tới thế rồi.

“Chị dạo này thế nào rồi? Có về thăm ba mẹ không?”

“Thằng hâm này hôm nay hỏi thăm cả chị mày cơ à? Chị thì không dám gặp ông bà gì đâu, chị mang thai rồi. Gặp ổng bà, khéo chị bị cạo đầu mất” Chị hai đáp lại bằng giọng tỉnh bơ, mặt tôi đỏ gay, biết thế tôi đã không thèm hỏi.

“Chị chắc nói giỡn” Tôi đáp lại gọn gàng, chị tôi vẫn hay giỡn như thế.

“Chị chả đùa đâu? Chị từng mang thai một lần rồi nhưng bị sẩy mất. Giờ thì chị không dám ảnh hưởng tới em bé nữa, bác sĩ nói còn sẩy một lần nữa là đem chị đi chôn là vừa” Chị hai vừa nói bằng giọng chắc nịt, vừa cười ha hả nghe rất vui mừng.

Tôi thì rất bất ngờ, vì đây là một chuyện lớn. Nếu ba mẹ biết được việc này, chắc chắn chị hai sẽ bị ăn mắng rất nhiều. Mà tôi tin phần nhiều là về việc có thai rồi mà cứ thích đi lung tung.

“Thật khó tin đó? Chị thì,…em nghĩ là chị sẽ không khóc. Nhưng mà ít ra chị cũng buồn chứ, sao chị có thể nói về nó với một thái độ bình thản như thế”

Chị hai im lặng, từ loa điện thoại tôi có thể nghe thấy tiếng chị thở.

“Thằng ngốc này. Chị buồn lắm chứ, chị đã khóc rất nhiều. Chị lúc đó chỉ muốn đổi mạng sống của mình cho đứa bé, chị muốn giết mình đi, trách bản thân vì sự vô trách nhiệm của mình. Thậm chí tới bây giờ, mỗi khi nhớ tới chuyện đó, tim chị lại thắt lại vì đau, nhưng chị không thể nào biểu lộ nó ra ngoài được. Chị sợ, ba mẹ lo cho chị, chị đã rất muốn về. Nhưng làm sao chị có thể về được? Một đứa con gái bất hiếu cãi lời cha mẹ, rồi còn làm chết đi đứa con chưa ra đời? Chị có thể tồi tệ đến mức nào đây. Một lúc nào đó, có thể em sẽ hiểu, tại sao chị lại phải cười như thế”

Giọng chị vẫn rất bình tĩnh, nhưng tôi có thể nghe ra được sự nghẹn nghèo trong đó. Tôi không tưởng tượng ra được mất mát của chị, có thể là vì tôi không phải phụ nữ hoặc cũng có thể tôi đã quá vô tâm, quá thờ ơ trước mọi thứ.

“Em xin lỗi. Đáng lẽ ra em không nên nói thế” Tôi xin lỗi, chị lại cười không trả lời.

“Chị biết, em nghĩ hành động của mình ngày đó là không thể tha thứ. Chị cũng hoàn toàn không đồng ý việc làm của em, ba mẹ cũng thế và mọi người cũng thế. Nhưng làm sao để thay đổi quá khứ bây giờ? Nếu chị có một cỗ máy thời gian, chị sẽ quay về quá khứ và giúp mày. Nhưng chị đâu có cỗ máy thời gian nào? Thế nên sai lầm là sai lầm, bỏ qua hoặc chấp nhận nó, chỉ có hai lựa chọn đó. Chị không thể sống mỗi ngày mà chỉ mơ có một con mèo máy nào đó chui ra từ trong hộc tủ cả”

Câu nói của chị làm tôi suy tư rất lâu.

Cả chị và tôi đều có những thứ không thể nói cho nhau nghe. Tôi chẳng biết gì về chị cả, nói đúng hơn thật ra tôi chẳng biết gì về bất cứ ai cả.

“Thế sao chị vẫn giúp em? Hành động của em, có lẽ sẽ không bao giờ được xã hội này tha thứ”

“Vì chị yêu mày”

“Vì chị yêu gia đình của mình. Yêu máu thịt ruột rà của mình, dù cho bất cứ chuyện gì xảy ra, chị vẫn sẽ luôn ở bên gia đình của mình, có thể chị không ở đây? Nhưng chị sẽ luôn bên mọi người. Mặc cho ba mẹ chửi mắng chị, chị hiểu những lý lẽ của ba mẹ, mặc cho cả xã hội gièm pha mày. Chị vẫn yêu mày, vì mày là em chị. Vì chúng ta là gia đình”

Tôi dường như mất đi tất cả mọi biện hộ trẻ con của mình trong phút chốc. Chị đã luôn bảo vệ tôi từ dạo ấy tới nay, từ bé cho tới lớn, từ lúc non dại tới tận lúc trưởng thành.

“Từ trước tới giờ em đã phạm quá nhiều sai lầm”

“Chị mày cũng thế. Chị mày từng làm cho một người bạn mất đi thứ quý giá nhất của mình, chị mày còn ăn cắp của cha mẹ mấy chục triệu để ăn xài. Nhưng chị được gia đình bảo vệ, được những người chị làm hại tha thứ, thế nên chị sẽ bảo vệ mày. Dù cả thế giới có đâm mày ngàn nhát dao, không đỡ hết thì chị cũng phải đỡ cho đến khi chị không còn sống nữa mới thôi”

Chị dừng lại hồi lâu rồi nói tiếp.

“Quãng thời gian chị ở với bà là khoảng thời gian chị quậy phá, điên loạn và cũng là khoảng thời gian chị học được nhiều bài học nhất. Một trong số đó là sống một cuộc đời hoàn chỉnh, chứ không phải là kết thúc nó bằng những nhát dao và thuốc ngủ. Chị không mong gì ở mày, chị chỉ mong mày tìm được gì đó ở cuộc đời”

“Ồ anh yêu, tháo khăn tắm ra đi nào…. Chị mày cúp máy đây, anh rể mày lên rồi. À mà, hãy thử xem qua cánh cửa trong buồng, hãy làm theo những gì bà để lại cho mày”

Sau đó chị cúp máy.

Tôi ngồi ngây người một lúc thật lâu. Tới khi trong đầu tôi bỗng dưng nẩy ra một ý tưởng tồi. Tôi kiểm tra xem điện thoại của mình có còn tiền hay không. Sau khi xác nhận bên trong còn tận mấy trăm ngàn thì tôi mới bấm một dãy số.

Phải mất rất lâu, tôi mới nghe thấy tiếng chuông điện thoại vang lên.

“Xin chào” Chất giọng thanh nhã quen thuộc khiến cho da đầu tôi tê dại.

Câu xin chào bằng tiếng Anh khiến tôi thấy vừa quen thuộc vừa xa lạ.

“Là anh. Vũ” Bên kia im bặt, rồi bên kia đầu dây bỗng hét to lên.

“Thằng khốn nạn, mày gọi tao làm cái quái gì?” Cô gái có vẻ rất giận dữ, do đã đoán trước được thái độ này nên tôi cũng không bất ngờ.

“Xin lỗi. Anh chỉ muốn nói như thế thôi”

Nói xong tôi cúp máy, chỉ mấy giây ngắn ngủi thôi mà điện thoại tôi đã bay đi một khoản tiền không nhỏ.

Tiếng chuông điện thoại lại vang lên, từ mã vùng có thể thấy đó không phải là mã vùng của đất nước này.

“Anh xin lỗi làm cái gì? Xin lỗi có thay đổi được những gì anh làm không? Lỗi lầm của anh sẽ không bao giờ được cái xã hội này tha thứ, tôi nhắc lại một lần nữa. Cho dù anh có quỳ xuống xin lỗi bao nhiêu lần thì lỗi lầm của anh, vẫn sẽ không được tha thứ. Anh đừng tưởng chỉ cần xin lỗi là xong”

“Anh biết. Anh sẽ trả giá một ngày nào đó”

Cô gái uất ức tới mức tôi có thể nghe được tiếng thở gấp rút của cô. Tôi nhớ những giọt nước mắt ấy, long lanh như pha lê, đẹp như thạch anh. Những giọt nước mắt vì đủ loại cảm xúc.

“Anh đang đi tìm cho mình một lý do để sống trên đời này. Anh cảm thấy, nếu như không xin lỗi về những gì đã làm thì dù có làm gì đi nữa cũng vô dụng” Tôi không mong Thuý có thể bình tĩnh nghe tôi nói, quá nhiều là từ dùng để nói về những đau đớn mà tôi đã gây ra cho cô.

Tôi không mong sự tha thứ, tôi đơn giản chỉ là muốn xin lỗi thôi.

“Tháng chín, tháng chín em sẽ về đây. Lúc đó, em gặp anh được không?”

“Tất nhiên, chỉ là chỗ anh ở bây giờ không được tiện nghi”

Cô gái thở dài buồn bã.

“Không sao, lúc đó có thể em sẽ cân nhắc về việc tha thứ cho anh. Dù sao mọi chuyện cũng đã qua rồi” Tôi tạm biệt Thuý, khoảng cách giữa Thuý với tôi ngay từ lâu đã không còn là khoảng cách về mặt địa lý.

Cho dù Thuý có đi du học ở đâu đi nữa thì khoảng cách giữa hai chúng tôi vẫn khó thay đổi. Những chuyện đó, nằm ở một khía cạnh khác hoàn toàn.

Tôi lại trầm ngâm, ngày mai khi mặt trời lên. Khi bầu trời đen này được thay thế bởi ánh sáng, liệu những gì tôi nghĩ và nói ngày hôm nay có thay đổi không? Liệu tôi có thể thay đổi mình thành một con người khác hay không?

Hay lại như con đom đóm mỏi cánh rơi lả tả dưới đất, vô vọng nhìn lên bầu trời đen đẹp như lụa.

Con đom đóm bị tội lỗi che kín mặt, che đi cả ánh trăng tuyệt diệu.

Tôi chỉ ngừng suy nghĩ khi thấy bụng mình reo lên vì đói, nhà cũng không có gì để ăn mà tôi cũng chả biết nấu nấu ăn nên tôi đành nhịn đói. Tôi chợt nhớ tới những thứ mà bà để lại cho mình.

Tôi vào buồng, mở cánh tủ gỗ cũ ra.

Quần áo của bà được xếp rất gọn gàng, một bộ đồng phục học sinh của chế độ cũ được treo thẳng, không hề có một vết nhăn. Cả căn nhà dù có bừa bộn đến đâu thì tôi vẫn thấy cái tủ này gọn gàng và rất ngăn nắp. Tôi thấy một cuốn sổ màu đen, bên trong kẹp một phong thư đề tên người nhận là tôi.

Tôi mở phong thư ra, bên trong giấy tuy đã ố vàng nhưng vẫn còn nhìn rất rõ chữ. Nét chữ của bà rất đẹp, được viết bằng thứ mực đen rất thơm. Bên trong viết.

“Gửi cháu trai của bà.

Ngày mà cháu đọc được phong thư này, tức là cháu đang ở quê nhà. Bà không biết đó là bao giờ, có thể là ngày mai, năm sau mười năm nữa, cũng có thể lá thư này sẽ chẳng bao giờ được mở. Nhưng bà vẫn muốn viết nó, bà không có nguyện vọng gì to lớn cả. Nhất là với cha mẹ của cháu, bọn nó đã lớn lên theo cách của bọn nó, bọn nó đã trưởng thành theo cách riêng. Cái con người được hình thành rồi, bà không thể thay đổi được.

Chị cháu có những rắc rối của mình, bà không nghĩ một đứa trẻ ngoan và thông minh như cháu lại có thể vướng vào rắc rối gì lớn. Nhưng đời người vốn rất vô thường, nếu cháu không quay về đây thì tốt nhưng nếu cháu quay về đây và đọc được bức thư này thì xin hãy làm theo những gì bà dặn. Coi như là hoàn thành những mong ước không có ai hoàn thành của bà.

Cháu hãy trồng một loại hoa cháu thích sau vườn, vì bà vốn không còn sức khoẻ để chăm sóc chúng.

Cháu hãy sửa lại mái tôn và bài trí lại căn nhà, cũng vì bà không còn đủ sức khoẻ để làm những việc đó

Cháu hãy biết ơn tất cả những ai giúp đỡ mình và giúp đỡ ai cần giúp đỡ, vì cháu sẽ không biết khi nào mình cần sự giúp đỡ từ họ.

Cháu hãy xin lỗi một cách thật chân thành, vì lỗi lầm sẽ không bao giờ được tha thứ nhưng lời xin lỗi sẽ khiến họ cất sự khiển trách trong lòng.

Cháu hãy trồng lại các loại trái cây bà từng trồng, bà muốn chúng sẽ mãi như thế sau vườn. Hạt giống bà để ở sau bàn thờ.

Cháu hãy giúp bà gửi lời cảm ơn tới những người bà ghi trong danh sách, mỗi người bà đều ghi một lời cảm ơn riêng. Bà không thể tự làm việc này, do sức khoẻ đã yếu và vì bà không thể nhớ hết những lời nói đó nữa. Bà già rồi.

Có thể cháu thấy bà yêu cầu rất nhiều điều, nhưng bà thật sự mong cháu có thể thực hiện giúp bà. Cuộc đời của bà, kể cả sau khi bà chết đi vẫn còn chưa hoàn thiện, hãy giúp bà hoàn thiện chúng.

Còn rất nhiều những yêu cầu khác, bà ghi ở phía sau. Hầu hết chúng đều rất trẻ con, việc này liên quan tới tuổi trẻ của bà. Cháu hãy giúp bà làm một lần.

Cuối cùng, cháu có thể không làm mọi việc trên cũng được. Bà chỉ cần cháu làm một điều, một điều duy nhất. Cho dù cháu làm thế nào đi nữa, cũng phải hoàn thành điều này.

Hãy tìm về con đom đóm bà cầm trong tay sáu mươi năm về trước”

Tôi trố mắt, con đom đóm sáu mươi năm trước.

Con đom đóm bà từng cầm.

Tôi ngả người ra sau, tay vuốt trán. Sáu mươi năm trước, lúc đó tôi còn chưa sinh ra đời.

Sáu mươi năm trước ơi sáu mươi năm trước, nửa đời người chứ có ít ỏi gì đâu.

Tôi khép cuốn sổ lại, trong đầu miên man những suy nghĩ bâng quơ.

0

Related Posts

2 Comments

  • Natsuki_Yukino Posted at September 30, 2017 at 1:10 pm

    Thật là một tác phẩm tuyệt vời. Tinh tế tựa pha lê và không tì vết. Từng câu chữ như cuốn vào lòng người. Những yếu tố miêu tả trong câu chuyện như vẽ lên cả một thế giới huyền ảo, đưa tớ vào sâu trong thế giới ấy, hóa mình thành nhân vật tôi và cảm nhận từng suy nghĩ, từng nỗi lòng của chính bản thân mình. Cảm ơn tác giả đã đem lại một câu chuyện đầy triết lí và rung động lòng người như thế.

  • Jun Sensei Posted at December 23, 2017 at 2:01 am

    Mình đọc không hợp lắm nhưng nói chung vẫn rất cám ơn tác giả! XD

Leave a Reply

Site Menu