#164 Pupus ex Anomalia

0

Tác giả :Lai Chỉ

Giới thiệu: Một hoàng tử bị chính vương quốc của mình chối bỏ và nàng công chúa mang tên “quê hương” đang say ngủ trong lòng biển.

Một cặp song sinh với lời nguyền gia tộc “chỉ một trong hai được phép sống”.

Một đứa trẻ với đôi mắt nhìn thấu lòng người và trọng trách gánh vác tội lỗi của thế giới.

Một quân nhân với ước vọng về một cuộc sống bình yên đời thường.

Và thứ được coi là khởi nguồn của mọi phép màu trên thế giới, cũng như mọi lời nguyền rủa tàn độc.

Những con rối đã sẵn sàng lên sân khấu trình diễn trên bối cảnh thế giới hậu tận thế.

Tân thế giới có gì? Chỉ còn lại hoang tàn đổ nát? Không phải! Tận thế là dấu chấm hết của thời đại cũ, nhưng cũng là điểm khởi đầu của cuộc sống mới. Con người sẽ vươn lên sau vấp ngã, dựng xây lại những ước mơ đã một lần đổ nát.

Đây là câu truyện của những người đã mất đi quá khứ, gặp gỡ nhau trong hiện tại bình yên của 100 năm sau Tận thế, và cùng đồng hành trên con đường tìm kiếm phép màu của tương lai.

Hay đây là câu truyện của những con rối tự do nhảy múa mà không hề hay biết sợi chỉ bạc đang trói buộc ý chí của bản thân?

Nhạc nổi, đèn lên, rèm đã mở. Tân thế giới, là nơi cuộc hành trình bắt đầu…

Tóm tắt nội dung :

Thế giới trải qua cuộc chiến tranh hạt nhân, đang trên bờ sụp đổ. Khi tình hình không còn có thể tệ hơn nữa, sự xuất hiện của một loại virut nhanh chóng lây lan thành bệnh dịch đã chấm dứt cuộc chiến tranh, đồng thời đem đến một kẻ thù mới cho nhân loại. Đại dịch Clockwork biến người bệnh thành những cỗ máy bằng kim loại với hình thù dị dạng. Sự sợ hãi trước hình dáng của giống loài đã từng là con người cùng sự bất đồng ngôn ngữ đã khiến một cuộc chiến mới nhanh chónh nổ ra, con người chống lại Clockworker, những kẻ đã từng mang hình dáng của nhân loại. Thỏa thuận đình chiến được thiết lập sau những năm ròng rã của cuộc chiến khắc nghiệt đã đặt dấu chấm hết cho thời kì khủng hoảng của Tận thế, con người và Clockworker sống ở những vùng đất tách biệt khỏi nhau, tự xây dựng xã hội của mình.

100 năm của Tân thế giới trôi qua trong yên bình. Một ngày, hòn đảo Glas thuộc Biển Băng tiếp nhận một thành viên mới : một đứa trẻ sơ sinh trong con thuyền nhỏ dạt vào bờ. 7 năm sau, đứa trẻ với đôi mắt vàng dị sắc đã mở khóa thứ đã giam cầm Đại dịch của 100 năm trước, giải phóng virut Clockwork ra khắp khu vực hòn đảo. Toàn cư dân đảo biến thành Clockworker, đứa trẻ cũng không ngoại lệ, nhưng vẫn bảo toàn được hình dáng con người. 10 năm sau ngày xảy ra sự kiện, đứa trẻ lên đường rời đảo, đi tìm cách thức có thể đảo ngược ảnh hưởng của Clockwork, trả lại cuộc sống của con người cho dân đảo.

Trong cuộc hành trình vòng quanh thế giới, đứa trẻ ngày đó nay đã là một thanh niên 17 tuổi, đã gặp gỡ và kết thêm nhiều bạn mới, những người sẽ trở thành đồng đội cùng vào sinh ra tử. Nhưng khi mong muốn chuộc tội của bản thân và lợi ích của tập thể bắt đầu xung đột với nhau, cậu đã phải lựa chọn giữa gia đình và bạn bè, giữa quá khứ và tương lai. Trong lúc đó, con người bắt đầu cuộc xâm lược những vùng đất của Clockworker.

Giữa những lựa chọn khó khăn, ý chí tự do và trái tim của người thanh niên ấy bắt đầu bị virut Clockwork ảnh hưởng. Quyết định đưa ra sẽ là lựa chọn đúng đắn hay sai lầm? Dù có chọn con đường nào, sự hối hận vẫn sẽ đồng hành đến tận cùng của hành trình.

Nỗi dằn vặt không thể nguôi ngoai, sự chuộc tội cuối cùng cũng chỉ là vì ích kỉ của bản thân, nơi quá khứ bị che dấu về nguồn gốc của Clockwork liệu có thể tìm thấy sự cứu rỗi?

Phép màu cao cả nhất có thể dễ dàng biến thành lời nguyền tàn độc nhất.

Ước nguyện nhỏ nhoi có thể đòi một cái giá rất đắt.

Lối thoát của sự bế tắc có thể nằm rất gần, chỉ cần đủ can đảm để có thể nhận ra nó.

“Đừng để quá khứ trói buộc hiện tại, cũng đừng để bản thân sợ hãi việc phải lớn lên.”

Sợi xích nối giữa quá khứ và hiện tại cùng những mảnh đời đan cài thành nút thắt bí ẩn của tương lai, tất cả sẽ cùng được đưa ra ánh sáng với bí mật quá khứ và lựa chọn sẽ ảnh hưởng đến vận mệnh thế giới.

Tương lai ấy sẽ là một tương lai hạnh phúc, khi những con rối của sự dị thường đã ngừng nhảy múa.

(Bài dự thi gồm prologue và 4 chương : 3 chương chính và 1 chương ngoại truyện. Chương khởi đầu không thuộc mạch truyện chính mà là một chương tiền truyện để giới thiệu về nhân vật Morze. Hi vọng cách sắp xếp thứ tự chương này là hợp lệ.)


Prologue

Thế giới mà chúng ta đều biết là thế giới của những quy tắc và luật lệ. Nếu như thiếu đi chúng, thế giới sẽ không còn như chúng ta từng thân thuộc.

Hãy tưởng tượng một tập hợp hổ lốn mọi thứ có mặt trên đời, cả vô hình và hữu hình, được gắn kết với nhau thành một thể thống nhất có tên “thế giới”. Hay văn hoa hơn một chút, hình dung thế giới như một quả cầu thủy tinh rạn nứt chỉ chực vỡ tan thành từng mảnh.

Thứ giữ chúng lại với nhau, dù là một đống lộn xộn hay những mảnh vỡ, là những quy luật cơ bản đan vào nhau thành tấm lưới thực tại.

Điều kì diệu vẫn thường xảy ra, nhưng chỉ trong phạm vi có thể chấp nhận của những quy luật cơ bản.

Nhưng nếu tấm lưới thực tại ấy bị rách một lỗ lớn? Nếu các sợi xích quy luật cứ đứt dần?

Phép màu đẹp đẽ nhất có thể trở thành lời nguyền xấu xa nhất. Và ngược lại, một lời nguyền độc địa có thể hóa thành phép màu cứu rỗi. Tùy thuộc vào mong muốn của con người, Anomalia sẽ biến điều ước thành hiện thực.

“Tôi sẽ đi với cậu. Cùng nhau, chúng ta sẽ dõi theo đứa trẻ mà cậu đã đánh đổi mạng sống để bảo vệ.”
Chương mở đầu : Starting Point

“…”

“Này Silas, dậy mau!”

“… Có chuyện gì?”

“Ông có nghe thấy gì không?”

“Ngoài tiếng bà đang réo gọi tôi lúc tờ mờ sáng thì không.”

“Tôi nghe có tiếng khóc ngoài kia.”

“Bà mơ ngủ đấy, biển đang bão, ai muốn ra ngoài vào giờ này.”

“Tôi thề tôi nghe thấy mà, là tiếng trẻ con khóc.”

“Bà đang mơ ngủ đấy thôi…Senti! Bà đi đâu?”

Trong cơn cuồng phong hung bạo ngoài trời, một bóng người chạy vụt ra, đương đầu với tố lốc. Ngôi nhà của bà Senti nằm ở ngay rìa hòn đảo, và chỉ bằng vài bước chân, bà đã ra đến bờ biển. Tấp vào bờ cát là một chiếc thuyền con chòng chành chỉ chực bị cuốn ra khơi theo con sóng. Bà Senti vội vã kéo con thuyền vào bờ, ngạc nhiên khi thấy nguồn cơn tiếng khóc bà đã nghe được : một đứa trẻ sơ sinh, nhỏ xíu, chắc hẳn vừa mới chào đời không lâu và đang tím tái vì lạnh.

“Silas! Cho to lò lửa lên! Có một đứa trẻ!”

Bà Senti bồng đứa bé lên, che cho bé khỏi bị mưa lạnh tạt vào rồi quay lưng bước vội về nhà mình. Đứa bé cảm nhận được hơi ấm, yếu ớt rúc vào lòng bà. Ôm đứa bé trong tay, Senti cảm nhận một niềm vui khó tả đang trào dâng trong lòng. Vợ chồng bà đã cao tuổi mà không có được một mụn con, đứa bé này không phải như một món quà thánh thần trao cho bà sao? Siết nhẹ đứa bé, bà đóng cánh cửa lại sau lưng, che mất khung cảnh mà đáng lẽ bà nên thấy – khung cảnh có thể sẽ khiến bà do dự khi nhận nuôi đứa trẻ này. Trong màn mưa giăng giăng mịt mù, một con thuyền cũ nát chầm chậm chuyển hướng, cánh buồm xác xơ bay phần phật trong gió. Trong chốc lát, con thuyền đã mất tăm vào trong màn nước trắng xóa, và khi ánh mặt trời lên xua đi cơn bão, đã chẳng còn vết tích của một con thuyền từng tấp vào hòn đảo này.

***

7 năm sau…

“Mẹ! Mẹ! Con về rồi!”

“Về rồi hả con? Hôm nay mẹ có làm cá kho con thích đấy.”

Bà Senti đang bận rộn nấu nướng trong bếp, bà đang làm món cá kho mà Morze thích nhất. Morze – biển – là tên mà vợ chồng bà đã đặt cho đứa bé ngày đó. Silas và Senti chăm sóc đứa bé như con đẻ của mình, trao cho đứa bé tất cả tình yêu thương dành cho đứa con mà họ không thể có. Morze lớn lên hiếu động, tinh nghịch, và rất tài giỏi. Thằng bé đã tự mày mò và chế tạo rất nhiều máy móc hữu ích cho dân làng, và bà luôn lấy làm tự hào về đứa con bé bỏng của mình.

“Morze! Sao thế này?”

Hôm nay Morze im lặng đến lạ, bà quay lại và giật mình khi thấy gò má tím bầm của đứa bé. Morze vội lấy tay che đi vết bầm, nhưng bà đọc được trong mắt bé sự tức tối và tổn thương. Lấy tay lau đi giọt nước mắt rơm rớm, bà ôm lấy Morze trong vòng tay ấm áp sực mùi thức ăn của mình, dịu dàng an ủi.

“Là bọn trẻ đó phải không? Đừng buồn, dù tất cả dân đảo xua đuổi con, con vẫn luôn có một mái ấm để trở về. Giờ thì đi rửa mặt rồi gọi ba vào ăn trưa đi con.”

Morze khụt khịt mũi, rồi nhanh chóng cười toe toét với bà. Đứa trẻ mau mắn lấy nước lạnh xoa lên gò má sưng rồi chạy vụt đi gọi Silas. Senti nhìn bóng con trai biến khỏi tầm mắt, lặng lẽ thở dài. Nuôi nấng Morze trong sự phản đối của dân đảo không phải là việc dễ dàng gì, nhưng bà không hối hận. Chỉ vài ngày sau khi Morze xuất hiện, có người nói đã nhìn thấy thuyền ma xuất hiện gần đảo, và khăng khăng Morze đến từ con thuyền quỷ đó. “Đứa con của quỷ thuyền”, “Đứa trẻ gieo rắc tai ương”, họ gọi đứa trẻ ngây thơ ấy bằng những cái tên thật ác độc, và bắt Senti trả lại đứa trẻ cho biển. Nhưng khi đôi mắt vàng tựa ánh mặt trời hiếm hoi nơi Biển Băng của Morze nhìn bà đầy chờ mong, môi bập bẹ những âm tiết đầu tiên của tiếng “mẹ”, bà đã chống lại lời lẽ của dân đảo, cùng chồng mình chăm sóc đứa trẻ bị bỏ rơi. Silas có thể không phải là người chồng tốt nhất thế giới, nhưng khi Senti một mình chống chọi sự xa cách kì thị của hàng xóm láng giềng, ông đã chọn đứng về phía bà, và một nhà ba người đã hạnh phúc sống bên nhau. Dần dần sự ghẻ lạnh của dân đảo cũng nhạt đi, Morze dần được mọi người chấp nhận là một thành viên của cộng đồng, nhưng vẫn có một ranh giới vô hình ngăn cách bé hoà nhập, ranh giới hình thành bởi nỗi sợ hãi phi lý của mọi người trước xuất thân của Morze. Mọi người luôn tránh nhìn vào đôi mắt dị sắc của bé, và Senti đã từng nghe bọn trẻ truyền tai nhau rằng màu mắt khác biệt là mắt của quỷ. Ai cũng lảng tránh những điều khác thường mà không nhận ra rằng đôi mắt ấy mang sắc màu ấm áp nhất mà họ từng biết.

“Senti, bà nấu món gì mà khét thế?”

“Chết, cá kho của tôi!”

Nồi cá trên bếp củi đã cạn trơ nước từ khi nào và đang tỏa mùi khét lẹt, Senti bỏ mặc những suy tưởng vẩn vơ trong đầu, tất bật lo bữa trưa cho gia đình. Một nhà ba người quây quần bên bàn ăn ấm cúng, cảnh tượng ấm áp đến nao lòng, như trời yên biển lặng ngoài kia, dự báo giông tố sắp ập đến.

“Morze, bọn trẻ nhà Karl lại đánh con à?”, Silas hỏi Morze, giọng thờ ơ nhưng không giấu nổi sự giận dữ.

“Ba đừng lo, bọn nó đánh con thật, nhưng con cũng thụi bọn nó đau lắm! Cơ mà bọn nó đông quá, lại còn hè nhau đè con xuống nữa, hình như làm cái răng cửa bị lung lay rồi.”

Morze hua tay tứ phía, hăng hái kể lại trận đánh như kể một chuyện thường ngày vẫn gặp. Nhìn nụ cười hồn nhiên của đứa con trai, Senti không khỏi xót xa. Morze là một đứa trẻ mạnh mẽ, không bao giờ tỏ vẻ u sầu về việc bị bắt nạt trước mặt vợ chồng bà, nhưng một lần, chỉ một lần duy nhất bà đã thấy đứa bé khóc thầm trong hốc đá ven bờ biển, một mình gạt nước mắt rơi. Bà ước bà có thể làm gì đó để Morze có thể yên bình sống, nhưng bà không thể. Bà căm ghét những hủ tục trói buộc Morze, nhưng chính bà cũng đâu thoát được khỏi nó. Bà đâu có tư cách gì để thay Morze bảo vệ cuộc sống của chính bản thân chứ?

Ăn cơm xong, Silas vỗ vỗ đầu con trai.

“Trai làng Glas không được yếu đuối nghe chưa Morze? Biển Băng khắc nghiệt, nhưng chính sự hung hãn của khí hậu sẽ rèn luyện chúng ta chống lại mọi khó khăn của cuộc sống! Nhào vô, Morze!”

Silas xắn tay áo khoe khoang mấy cẳng tay tong teo gầy nhom, hai cha con vần nhau một hồi rồi nằm dài trên tấm thảm lông. Nhìn cảnh vui đùa thân thiết, Senti mỉm cười nhè nhẹ, nhưng vẫn không xua nổi những dự cảm mơ hồ về một điềm chẳng lành sắp tới.

***

Đầu chiều, Morze trùm kín người trong chiếc áo lông ấm sực, vác theo quyển sách to sụ đến Thánh đường nằm giữa đảo. Thánh đường được xây dựng bởi những người đầu tiên sinh sống trên đảo, thờ phụng Hải thần của Biển Băng, người đã cho hòn đảo những tài nguyên quý giá. Đảo Glas nổi tiếng khắp các đại dương bởi có nguồn kim loại quý, không bị nước biển ăn mòn nên thường được các thương nhân mua để đóng tàu, bởi vậy nghề khai thác mỏ ở đây rất phát triển, và hòn đảo cũng rất giàu có dù cho thương nhân chỉ có thể tiếp cận đảo vào 3 tháng mùa hè; thời gian còn lại hòn đảo chìm trong băng tuyết và gió bão. Bây giờ là những tháng cuối cùng của mùa đông dài, những cơn gió thổi thân hình nhỏ bé của Morze liêu xiêu trên đường làng ngập tuyết. Vừa bước vào Thánh đường, Morze vội vàng cởi bỏ cái áo sũng tuyết, phi thẳng vào gian trong nơi bếp lửa bập bùng ấm áp.

“Linh mục Val, là em, Morze đây!”

“Vào đây cho ấm nào. Đã bảo rồi mà, cứ gọi anh là Val thôi, thêm linh mục làm gì.”

Gian trong của Thánh đường là một thư viện rộng lớn đầy những sách, hàng ngàn quyển thơm mùi giấy cũ chất chồng trên những giá sách cao ngất. Bên bếp lửa là Val, người trông coi Thánh đường và kiêm luôn quản lý thư viện của đảo. Mặc dù là một linh mục đầy cao quý, nhưng Val cũng chỉ khoảng hơn 20 tuổi thôi. Với Morze, Val như một người anh trai đáng mến hơn là một người truyền đạt những lời nói của Hải thần đầy uy nghiêm và quyền uy.

“Em đến trả sách ạ.”

Morze đặt lên bàn cuốn “Bách khoa toàn thư về Cơ Khí” dày cộp và nặng trịch lên bàn. Thư viện chứa đầy sách từ khắp thế giới được mang đến trong những chuyến đi của những thương nhân, và Morze dành phần lớn thời gian rảnh rỗi ở đây vùi mình vào những trang sách. Hiếm hoi lắm mới có ai đó đến đây, điều này khiến cho thư viện trở thành nơi trú ẩn tuyệt vời của cậu khỏi bọn trẻ phiền nhiễu và những người lớn luôn cau có. Ở đây chỉ có cậu, có Val, và có sách.

“Em đã đọc hết rồi sao? Có hay không?”

“Có, hay lắm! Lớn lên em sẽ chế tạo những thứ có trong này! “Máy bay” này, nó có thể bay trên trời như hải âu đó! Còn “tàu ngầm” có thể lặn xuống tận đáy biển, sâu hơn bất cứ ai trên đảo có thể!”

Val nhìn những hình vẽ chằng chịt trong sách mà hoa cả mắt, đành đơn giản xoa đầu Morze và bảo.

“Lớn nhanh nhé, chế tạo “máy bay” xong là phải cho anh đi thử đầu tiên đấy!”

“Vâng!”

“Morze muốn ăn bánh quy bơ không?”

“Có có!”

“Vậy chọn sách cho mình đi, anh sẽ pha cacao nóng.”

Morze nhảy nhót reo hò và nhanh chóng biến mất giữa các giá sách dày đặc. Cầm trong tay ngọn đèn bão, cậu mò mẫm giữa các quyển sách và những dòng chữ đủ kiểu dáng, cho đến khi một quyển sách có vẻ thú vị với những con chữ uốn lượn ghi “Các sinh vật huyền bí” đập vào mắt. Cuốn sách kẹt cứng giữa chồng sách, khiến cho Morze phải dùng toàn lực để kéo nó ra mà vẫn cố giữ cho cả giá sách không đổ ụp xuống người cậu. Cuốn sách bung khỏi giá, Morze văng người về phía sau, nhưng thay vì đập lưng vào tường đá sau lưng, cậu lăn tòm vào một khoảng trống bất ngờ xuất hiện, lộn mèo mấy vòng trước khi dừng lại ở chân cầu thang. Ngọn đèn bão soi sáng một căn phòng bụi bặm như đã bị bỏ hoang cả trăm năm, và trên cái bàn gỗ bừa bộn giữa phòng, một quyển sách nằm ngay ngắn như chờ người mở ra. Morze lau đi lớp bụi bám mờ trên quyển sách, tiếng kim loại va nhau lanh canh của chiếc khoá trên cuốn sách khiến cậu giật mình.

“Clockwork?”

Căn phòng kì lạ giấu mình trong thư viện, cuốn sách kì lạ bị khoá chặt, cái tên kì lạ, tất cả đều như cảnh báo cậu hãy đi đi và đừng trở lại. Nhưng sự tò mò đã chiến thắng nỗi sợ hãi mơ hồ, và Morze cầm chiếc chìa khoá nhỏ, mở quyển sách kì lạ ra. Ngay lúc ấy, Morze không mảy may nghĩ đến hậu quả mà mình sẽ phải gánh chịu. Sự tò mò ấy không chỉ làm chết con mèo, mà còn đem đến kết cục bi thảm hơn cả cái chết.

***

“Morze! Em đâu rồi?”

Val đặt khay bánh và hai ly cacao xuống cái bàn cạnh lò sưởi, đưa mắt tìm bóng dáng của cậu bé. Mọi lần Morze đều rất nhanh chóng tìm thấy sách mà mình muốn và ngoan ngoãn ngồi đọc cạnh lò sưởi, hoặc khi anh gọi đều sẽ mau mắn chạy ra, nhưng lần này anh đợi mãi mà không thấy cậu. Dự cảm không lành ập tới, anh vội vã tìm Morze. Thư viện này ẩn giấu một bí mật nguy hiểm, một bí mật có thể huỷ hoại không chỉ đảo Glas, mà cả thế giới này.

Rất nhanh chóng Val tìm thấy một ô sáng mờ nhạt toả ra ở nơi vốn là bức tường đá. Tim anh hẫng đi một nhịp, guồng chân lao về phía căn phòng kia. Morze đang đứng cạnh bàn, trong tay là cuốn sách kia, chìa khoá đã cắm vào ổ và đang từ từ xoay. Thời gian như trôi chậm lại, Val tuyệt vọng hét lên, nhưng không thể ngăn bánh xe số phận bắt đầu vần chuyển.

***

“Dừng lại!”

Tiếng Val đột ngột từ phía sau khiến Morze giật nảy mình, cuốn sách mở bung trượt khỏi tay, rơi xuống đất. Morze thấy biểu cảm tuyệt vọng trên gương mặt anh, nhưng chưa kịp nói gì, một luồng ánh sáng đã làm lóa mắt cậu. Con mắt phải hé mở của cậu nhìn thấy cuốn sách kia tan thành tro bụi, sóng ánh sáng đập cậu văng vào tường đá, trượt xuống đất bất tỉnh. Không gì có thể ngăn cản bụi ánh sáng kia tràn ra khỏi căn phòng bí mật, nhanh chóng trùm lên đảo Glas. Người dân ngạc nhiên và tò mò trước màn sương ánh vàng này, nhưng nhanh chóng sự hoảng loạn thay thế mọi cảm xúc. Tiếng gào thê lương vang vọng một vùng Biển Băng, khiến một con tàu buôn đang đi ngang hòn đảo phải xoay bánh lái hướng vào bờ. Nhưng trước mắt họ, một vòng ánh sáng lam sắc chạy dọc bờ biển, vươn lên tận tầng không ôm lấy toàn bộ hòn đảo, rồi đột ngột vỡ vụn cùng luồng gió mang tuyết lạnh đột ngột làm thuyền buôn chao đảo. Thuyền trưởng ra lệnh cho tàu tấp vào hòn đảo đã không còn ánh lửa đỏ và sự sống của con người.

***

“… Val?”

Morze tỉnh lại trong căn phòng đá, toàn thân ê ẩm. Cậu gắng gượng dậy, nhìn quanh căn phòng đổ nát. Cây đèn bão đã tắt ngóm, Morze mò mẫm trong bóng tối, chân vấp phải một vật gì đó làm cậu ngã dập mặt xuống nền đất băng lạnh. Cậu ra khỏi căn phòng, chăm chú tìm Val nhưng không thấy một dấu hiệu nào của anh. Lò sưởi chỉ còn chút tàn đỏ, Morze châm lại ngọn lửa và cầm ngọn đèn bão mới thắp ra khỏi Thánh đường. Đêm đã buông xuống, nhưng các căn nhà đều tối om không một ánh lửa, Morze cảm giác cậu đang đi giữa một ngôi làng chết, và chỉ quầng sáng của ngọn đèn bão trên tay mới giữ cho cậu không bị màn đêm nuốt chửng. Đi hết con đường quanh co, Morze nghe thấy tiếng người lao xao phía trước, gần như chìm trong tiếng lạch cạch kì dị. Nhưng dường như những tiếng cót két lạch cạch ấy có mang ý nghĩa, cậu nghe thấy tiếng người gào thét lẫn trong tiếng nói hoảng loạn “Tránh ra!” , “Chuyện gì thế này?”, “Tại sao?”, và trên tất cả là “Quái vật!”

Trong khi Morze còn sững sờ hoang mang, ánh đuốc đỏ chói lao về phía cậu, một nhóm thuỷ thủ hoảng sợ xông đến. “Một đứa trẻ!”, họ hét lên, và ai đó gào lại đáp lời “Mang nó ra khỏi đây mau!”. Một thuỷ thủ lực lưỡng vác cậu lên vai, Morze giãy giụa hòng thoát thân, nhưng “thứ” mà đoàn thuỷ thủ đang chạy trốn làm cậu đờ người. Đó là một nhóm những thứ mà cậu từng thấy trong sách : “người máy”, với những cánh tay bằng kim loại bóng loáng phản chiếu ánh lửa hồng, những khớp xương cót két, những con mắt lập loè ánh xanh ánh đỏ, trong bộ quần áo, giờ đã rách rưới, của người dân trong làng. Những “người máy” kia, đó là…

“Đó là dân đảo Glas! Thả tôi ra! Thả ra!”

Morze gào lên, cậu đập liên hồi vào lưng và vai người đang ôm lấy cậu, nhưng sức một đứa trẻ 7 tuổi sánh là gì với một người thuỷ thủ đã lênh đênh trên biển hàng năm trời. Cậu bị mang lên thuyền, và khi thuyền dần rời khỏi hòn đảo, cậu vẫn không ngừng giãy giụa. Một người túm lấy hai vai cậu, siết chặt đến khi Morze phải dừng lại vì quá đau đớn.

“Cậu bé, cậu biết đám quái vật kì dị kia là gì?”

“Họ không phải quái vật, họ là dân đảo Glas. Họ…ba mẹ tôi…họ có sao không?”

Morze vùng lên, và một lần nữa bị giữ chặt lại. Người đó đè lên ngực cậu, bóp cằm chặt cậu, bắt cậu ngẩng lên nhìn vào mắt ông ta. Ông gằn từng tiếng, trên khuôn mặt có đôi nét hoảng hốt nhưng từng lời lại cương quyết và đầy uy lực.

“Nghe cho rõ đây, hòn đảo đó bị nguyền rủa rồi, trên đó giờ chỉ còn bọn quái vật kim loại kinh khủng thôi. Tôi không cần biết bọn quái đó từng là gì, nhưng tôi biết cậu mà quay lại là chỉ còn đường chết trên đó. Đi với thuyền tôi và rời khỏi đây.”

“Không…không thể…là…là lỗi của tôi…”

Morze ôm đầu run rẩy. Là quyển sách đó, là do cậu đã mở quyển sách đó ra…

“Tôi phải về!”

Giữa biển thinh lặng, một con sóng hung dữ đẩy nghiêng mạn thuyền, thuỷ thủ đoàn nghiêng ngả lắc lư theo nhịp chòng chành của con thuyền. Morze lao khỏi tay người kia, nhảy xuống biển. Sóng nâng đỡ cậu, dìu cậu lướt trở lại đảo. Cậu phải về, để đối mặt với sự trừng phạt, để sửa chữa lỗi lầm cậu đã gây ra.

***

1 năm, 3 năm, rồi 5 năm đã trôi qua từ ngày đó. Morze ngồi một mình trong thư viện của Thánh đường, lật mở từng trang giấy nhàu nát. Thư viện đã được dọn dẹp lại sau sự kiện đêm hôm ấy, và bây giờ nơi này là nhà của cậu. Một ngục tù quá thoải mái cho một kẻ tội đồ như cậu.

Phải mất cả tháng sau để dân làng bình tĩnh lại sau sự kiện kinh hoàng đó. Sương mù vàng đã biến tất cả người dân trên đảo thành một loại máy móc kim loại hình người cổ quái. Xương thành sắt, cơ thành lò xo, máu thành dầu nhớt, không còn một dấu hiệu để nhận ra đó từng là một con người. Ngay lập tức, dân đảo kết tội Morze, nhưng cùng lúc họ nhận ra cậu là lý do duy nhất giữ cho họ còn sống, còn cử động. Khi thuỷ thủ đoàn kia đưa Morze rời khỏi đảo, toàn bộ người – hay máy – trên đảo đã bị đông cứng và dừng hoạt động, và chỉ chạy trở lại khi cậu đặt chân lên đảo. Cuối cùng, thay vì giết Morze, và tự kí án tử cho bản thân, dân đảo giam cậu tại Thánh đường nơi trung tâm đảo. Silas và Senti cũng không thể thoát khỏi làn sương mù đó, nhưng thay vì chỉ trích và nguyền rủa Morze như người khác, họ vẫn đứng về phía cậu, và cùng chịu cảnh bị giam cầm trong Thánh đường.

“Val, nếu là anh, liệu anh có biết cách nghịch chuyển thời gian không?”

Morze hỏi viên lam ngọc trang trọng nằm một góc trên chiếc bàn bừa bộn giấy. Viên ngọc này, cùng với những mẩu kim loại, lò xo, đinh ốc khác, là tất cả những gì còn lại của Val mà cậu tìm thấy khi quay lại Thánh đường. Val cũng bị biến thành máy, nhưng anh đã chết. Cơ thể kim loại lạnh ngắt, vỡ vụn, như… một cỗ máy đã quá cũ kĩ. Những người khác đều còn sống, đều còn cử động, nhưng anh lại chết. Dù cho Morze có lắp lại những con ốc, những lò xo bao lần đi nữa, Val cũng sẽ không trở lại. Val chết, là vì lỗi của cậu.

Những cuốn sách cũ kĩ trong thư viện đã hé lộ một phần xuất xứ của màn sương mù kia, dù cho nó không thể gọi là một xuất xứ rõ ràng. 100 năm trước, khi thế giới cũ đứng trên bờ diệt vong do chiến tranh hạt nhân – một cuộc chiến mà người ta giết nhau bằng thứ vũ khí dị thường và độc hại – màn sương mù ấy đã xuất hiện, và lan rộng trên toàn thế giới. Con người tiếp xúc trực tiếp với màn sương đó, nhẹ sẽ bị hoá thành máy móc, nặng thì hoàn toàn tan thành cát bụi. Người ta gọi nó là Dịch bệnh Clockwork, giống cái tên được ghi trên quyển sách tai hoạ kia. Nửa năm, đại dịch Clockwork bao trùm cả thế giới, góp thêm một bước đẩy nhân loại đến vực tuyệt diệt. Nhưng rồi một năm sau, Clockwork biến mất, để lại phía sau cảnh tượng hoang tàn và chết chóc. Dịch Clockwork đã chấm dứt thời kì hỗn loạn và tang thương của một thế giới đã đến hồi kết thúc, và thế giới mới bắt đầu trên đống tàn tro của ngày cũ.

((Morze, con còn thức sao?))

Một giọng nói cọt kẹt khô khốc gọi tên cậu, cậu quay lại và thấy Senti bước vào thư viện. Những bước chân nặng nề đập vào đá để lại vọng âm chát chúa, đó là thanh âm Morze đã quá quen thuộc suốt những năm qua. Dưới vỏ ngoài cục mịch thô kệch, Senti vẫn không hề thay đổi. Bà vẫn rất dịu dàng lượng thứ cho lỗi lầm của cậu, nhưng điều đó chỉ khiến cậu thêm phần tội lỗi. Cậu dồn sức nghiên cứu các tài liệu trong thư viện cách để biến mọi người trở lại như cũ, nhưng đã đến những giá sách cuối cùng rồi mà việc tìm kiếm vẫn chưa có kết quả gì. Dịch Clockwork xuất hiện đột ngột và biến mất cũng không kém phần bất ngờ. Có những ghi chép về việc có người thoát khỏi số phận làm một Clockworker – cách người ta gọi những người bị dịch Clockwork biến đổi – nhưng họ cũng không biết gì nhiều hơn ngoài sự thật rằng họ lại được làm người. Và khi khoa học không thể đưa ra lời giải, Morze đã bắt đầu viện đến những truyền thuyết hoang đường. Bây giờ cậu đang đọc về truyền thuyết Hải thần ở Biển Băng này, hi vọng tìm thấy một cơ hội dù mong manh nhất.

“Mẹ cứ ngủ trước đi. Con đọc thêm một lát nữa rồi sẽ đi nghỉ.”

((Đừng cố quá nhé.))

“Mẹ an tâm.”

Senti nhìn vào đôi mắt Morze – đôi mắt dị sắc nhìn lại bà thật trìu mến và đầy quan tâm. Đôi mắt của bà giờ có thể nhìn thấy rõ ràng hơn với những góc độ khác lạ, và dù bà không quá khó chịu với hình dạng mới này, nhưng Morze vẫn miệt mài tìm kiếm một cách thức để đảo ngược ảnh hưởng của màn sương đó. Và gần đây thằng bé càng lúc càng tuyệt vọng. Cuộc tìm kiếm trong thư viện đồ sộ này đang rút kiệt sức lực của Morze, nhưng thằng bé vẫn không dừng lại dù bao lần Senti khuyên nhủ. Bà chỉ đành ở bên động viên thằng bé, như bà chăm sóc nó từ những ngày đầu.

Khi Senti đóng cánh cửa lại sau lưng, Morze nhìn những con chữ trên tờ giấy vàng úa, mắt ẩn ẩn đau. Màn sương kia có tác động đến cậu, nhưng không rõ rệt như những người khác. Cậu có thể thức rất nhiều ngày, nhưng vẫn cần ngủ để phục hồi sức lực. Cậu vẫn còn vị giác, nhưng không cần ăn để sống. Con mắt trái vốn màu vàng, giờ trở nên xanh lam như màu bầu trời mùa hè hiếm hoi được thấy. Và cậu hiểu được ngôn ngữ của dân đảo, ngôn ngữ của máy móc. Những tiếng cọt kẹt réo rắt vô nghĩa với người thường, chỉ có Morze có thể nghe được ý nghĩa của nó. Gấp lại cuốn sách cũ, Morze mở căn phòng bí mật kia – nơi đã bị cậu biến thành xưởng chế tạo của mình. Cậu muốn hoàn thành chiếc máy hát trong đêm nay, để ngày mai có thể mua vui cho dân làng.

Sự xuất hiện của dịch bệnh Clockwork đã biến hòn đảo một thời trù phú thành “hoang đảo bị nguyền rủa”. Bây giờ không còn một thuyền buôn nào dám tấp vào đảo để buôn bán, dân đảo cũng bị giam cầm trong phạm vi của hòn đảo. Trở thành máy móc đồng nghĩa với lương thực không còn cần thiết, mà thay vào đó một nguồn năng lượng bí ẩn – mà dân đảo quả quyết là Morze – là thứ giữ cho tất cả có thể hoạt động. Lẽ tất nhiên, họ giam cậu lại, như cất giữ một báu vật quý giá, một thứ trân quý bởi vì giá trị sử dụng của nó, chứ không phải vì bản thân nó.

Nhưng sự bình tĩnh trong những tháng đầu tiên không thể kéo dài lâu. Sự buồn chán xâm lấn tâm trí mọi người, và họ bắt đầu tấn công nhau, chém giết nhau một cách vô nghĩa, đến khi những cái ốc vít cuối cùng long ra, những lò xo gãy đôi, những bánh răng vỡ vụn. Morze phải đứng lên ngăn chặn sự bạo loạn lan rộng bằng cách đe doạ sẽ rời đảo, và hứa sẽ chế tạo những cỗ máy giải trí cho dân đảo. Sự ổn định được tái lập tuy rất mong manh, mỏ kim loại trên đảo được hoạt động trở lại để cung cấp cho Morze nguyên liệu cậu cần. Cuộc sống bắt đầu trở lại guồng quay, nhưng cậu biết, “bình yên” này chỉ là một lớp vỏ bọc mong manh che giấu sự phẫn nộ và bất mãn hướng vào cậu, và một ngày kia, tất cả sẽ bùng nổ. Trong đêm, tiếng kim loại nện vào đá chan chát bị những bức tường đá nuốt chửng, và khi ngày mai tới, mọi thứ sẽ vẫn như bao ngày trong suốt những năm qua : bế tắc và vô vị.

***

8 năm sau Sự kiện Clockwork, Morze lúc này đã là một thiếu niên 15 tuổi, vẫn vùi mình trong hàng đống máy móc trong xưởng của cậu. Cuộc sống trên đảo không thay đổi gì trong suốt 3 năm qua, nhưng công cuộc tìm kiếm của cậu đã mang lại kết quả. Hi vọng được đặt cả vào trong một tập giấy viết tay cũ kĩ như được viết từ cả trăm năm trước, nói về hành trình sáng thế của một con thuyền mang tên Noah. Dưới những câu từ hoang tưởng ấy, Morze tìm thấy bí mật được che giấu một cách thật tài tình. Theo ghi chép, con thuyền ấy đã đi khắp thế giới, khai sáng cho những vùng đất âm u đầy quái thú hung bạo, những vùng biển nhung nhúc những thuỷ quái khổng lồ, và “những khu vực chết chóc chỉ có những sinh vật bằng kim loại cư ngụ”. Từ con thuyền nổi trên sóng mây và nước gió, lời ca tiếng nhạc lan xa trong không gian, ban cho những loài dị thú hình hài của nhân loại. “Những sinh vật bằng kim loại có được hình dáng loài người”, đó là hi vọng mà Morze bấu víu vào, hi vọng về cách thức có thể đảo ngược ảnh hưởng của Clockwork. Sau khi kết thúc sứ mệnh sáng thế, con thuyền biến mất, nhưng những lời ca đã tạo hình thế giới thì vẫn chưa. Những ngôn từ chứa đựng quyền năng tối cao ấy được ghi chép trong một quyển sách nay đã thất lạc và trở thành truyền thuyết. Quyển sách đó được nhắc đến với cái tên Thánh thư, và được tin là sẽ thực hiện bất cứ điều ước nào cho người có được nó, ngay cả điều ước hoang đường nhất.

Morze đang chuẩn bị cho chuyến hành trình đi tìm quyển sách của Noah sắp tới, nhưng vẫn còn quá nhiều thứ phải làm. Bây giờ, cậu đang lắp những mảnh ghép cuối cùng vào tác phẩm kì công nhất của mình. Morze đặt tất cả sự hối hận của cậu, nỗi nhớ của cậu, niềm mong mỏi của cậu cùng viên lam ngọc của Val vào lồng ngực con thú kim loại, và trước sự mừng rỡ đến nghẹn ngào của cậu, con thú rùng rùng sống dậy. Con mắt lập loè lam sắc của nó mới đầu nhìn Morze một cách e ngại, nhưng rồi nhanh chóng thân thiết cuộn người vào lòng cậu. Morze vuốt ve đầu nó, chạm nhẹ vào cái mũi đang hếch lên. Con thú gừ gừ nhè nhẹ.

Con thú kim loại được tạo nên từ những gì còn lại của Val, và là người cậu chọn đồng hành cùng trong chuyến đi này. Cậu đã chọn những mẫu thú mạnh mẽ nhất trong quyển “Các sinh vật huyền bí” để tạo nên nó, tất cả nằm trong một khối kim loại linh động và có thể biến đổi tuỳ thích. Ngay bây giờ, con thú mang hình dạng của một Griffin, loài sinh vật thần thoại lai giữa sư tử và đại bàng. Con thú kim loại gừ nhẹ khi Morze đẩy nó ra, nhưng ngoan ngoãn ngồi im để cậu kiểm tra. Các khớp nối chuyển động mượt mà, bánh răng chạy trơn tru, những cử động linh hoạt, các dạng thú biến đổi hoàn hảo, lớp lông bao bên ngoài mượt và rất ấm, xúc cảm chân thật đến khó thể tin nó chỉ là một cỗ máy kim loại. Morze ôm chặt con thú trong lòng, và nó co nhỏ lại thành một con mèo đen tuyền, lông ánh sắc xanh nhạt và có một mảng trắng trước ngực.

“Mày thích hình dạng này nhất đúng không?”

Con thú meo meo kêu thật vui vẻ thay cho lời đáp.

“Vậy gọi mày là Cait nhé? Ta cũng thích Cait Sith lắm, duyên dáng và đầy bí ẩn.”

Một chiều của rất nhiều năm về trước, Morze đã ngồi trong lòng Val, ôm một cuốn sách tranh mà hỏi anh thích con gì nhất. Val đã chỉ vào hình của Griifin trong cuốn sách Morze đang cầm, nói rằng nó là vua muông thú, và anh muốn một lần được cưỡi nó bay lên trời cao. Morze thì lại thích Cait Sith, và hai anh em đã giành cả một buổi chiều để cãi nhau xem con thú nào mạnh hơn. Những kí ức ấm áp khiến Morze nhoẻn miệng cười, nhưng lệ lại làm mắt cậu nhoà đi.

“Bây giờ anh có thể bay rồi, Val. Em đã giữ lời hứa nhé. Không cần máy bay, anh có thể tự bay bằng đôi cánh của mình.”

Trong tiếng động cơ nho nhỏ kêu của máy móc, Morze chìm vào giấc ngủ sau bao đêm thức trắng. Khối cầu lông ấm áp bên tai nhắc cậu nhớ lại những tháng ngày xưa cũ, cậu chìm vào cơn mơ đầy hồi tưởng.

“… Đừng bỏ em đi nữa nhé, Val…”

***

Senti trằn trọc trên chiếc giường của mình trong căn phòng bên cạnh Thánh đường. Có điều gì đó làm bà bứt rứt không yên, giống cảm giác đã khiến bà chạy ra ngoài cơn bão 17 năm về trước, và giống như một ngày cách nay 10 năm khi mà bà bị biến thành máy. Silas nằm bên cạnh đã thiu thiu ngủ, nhiều lúc bà thật khâm phục ông chồng mình vì không hề bị những điều nhỏ nhặt làm bận tâm, như việc nhận nuôi Morze, hay tình trạng máy móc hiện giờ của mình. Một điềm lạ thôi thúc bà đi tìm Morze, nhưng chưa kịp bước ra khỏi phòng, bà đã bị thân hình cao lớn của con trai chặn ngay cửa. Morze đã cao vọt lên vào năm ngoái, và trở thành một thanh niên điển trai và thu hút, đấy là bà nghĩ thế, bởi từ khi trở thành một cỗ máy, bà đã mất đi quan niệm thế nào là cái đẹp. Bây giờ, đứng giữa dân đảo, Morze chỉ là một kẻ lạc lõng, và giống như họ trong con mắt của những người ngoài vậy, một con “quái vật”. Nhưng không gì có thể ngăn Senti ngừng yêu thương con trai mình, dù có là hủ tục 17 năm về trước, hay là nhân sinh quan của hiện tại.

“Mẹ, mẹ chưa ngủ sao?”

((Mẹ không ngủ được.))

Senti cót két trả lời. Morze ngạc nhiên khi thấy bà vẫn còn thức, nhưng rồi nhanh chóng bình tâm lại và bước vào phòng. Senti nhìn trang phục của con : áo choàng dài ngang gối khoác hờ, màu đen trùng với chiếc áo bên trong, gấu quần dém chặt trong đôi giày cao cổ bó gọn bắp chân, như một nhà lữ hành chuẩn bị lên đường đi xa. Senti chưa từng thấy Morze đeo băng mắt, nhưng hôm nay con mắt phải màu vàng dị sắc bị che lại phía sau mảnh vải đen buộc vòng qua sau đầu. Bên ngoài cửa, con thú máy mà cậu làm ngồi đợi cạnh chiếc túi du hành, loại túi mà bà thường thấy các thương nhân đeo theo người khi họ tấp vào đảo.

((Morze, con định đi rời đảo sao?))

Morze bối rối. Cậu đã định sẽ lặng lẽ rời đảo, nhưng không thể ngăn mình đến nhìn ba mẹ lần cuối trước khi đi xa. Và bây giờ cậu đã bị Senti bắt gặp, cậu lo rằng bà sẽ bắt cậu ở lại, dẫn đến việc cậu sẽ phải kháng cự. Nhìn nét mặt đầy vẻ tội lỗi của Morze, cơn giận của Senti lắng dần. Bà không giận vì Morze định rời đảo, mà là vì thằng bé đã định bỏ đi một mình mà không cho bà biết. Bà vòng cánh tay kim loại của mình quanh người Morze, siết chặt đứa con vào lòng. Senti biết một ngày thằng bé sẽ rời khỏi đảo, nhưng bà không mảy may muốn ngăn cản nó. Cuộc đời bà nằm lại đảo Glas này, nhưng cuộc đời của Morze nằm phía ngoài kia, bên ngoài ranh giới của đảo, vượt qua Biển Băng và xa hơn nữa, đến tận những vùng đất lạ nằm khuất trong đường chân trời kia.

((Đi đi Morze, nhưng nhớ, nơi này vẫn luôn là nhà của con. Mẹ sẽ đợi con ghé thăm, và kể cho mẹ những vùng đất con đã thấy.))

“Mẹ…”

((Đừng lo lắng, chỉ là một giấc ngủ dài thôi mà. Có thể mẹ sẽ nằm mơ nữa đấy. Thật lâu rồi mẹ chưa có được một giấc mơ đúng nghĩa.))

“…”

((Nào, đừng khóc. Trai làng Glas không được yếu đuối, nhớ lời ba dặn không con?))

“… Mẹ, con nhất định sẽ trở về, và biến mọi người trở lại như cũ. Con hứa!”

((Mẹ biết Morze của mẹ sẽ làm được mà.))

Senti nằm lên giường, và trước sự ngạc nhiên của bà, Morze khẽ hôn lên vầng trán bà. Con mắt xanh của bà nhấp nháy rồi tắt dần, trước khi hoàn toàn chìm vào giấc ngủ, bà mơ hồ nghe tiếng Morze vọng bên tai. Khoé môi Senti vẽ lên một nụ cười thật hạnh phúc, và nhịp đập của quả tim máy lặng dần rồi tắt hẳn.

“Ngủ ngon, mẹ yêu thương.”

((Không có nụ hôn ngủ ngon cho ba sao Morze?))

Silas ngồi dậy, mắt đỏ lập loè trêu chọc.

((Ba không thích nhiều lời lằng nhằng như mẹ con, lại đây cho ba ôm một cái.))

Morze lặng lẽ ôm lấy Silas, tựa đầu vào bên vai lạnh lẽo của ông.

((Silas già này chẳng có gì để lại cho con cả, chỉ có cái thân kẽo kẹt này thôi. Nhưng ba và mẹ sẽ ngủ lại đây, đợi con trở về đánh thức. Nhớ phải trở về đấy, có chết cũng phải hiện hồn về. Ngủ mãi không tốt đâu.))

“Con nhớ mà ba. Ngủ mãi không tốt, kiểu gì cũng phải thức dậy thôi.”

((Nào, phần của ba đâu?))

Morze hôn lên trán Silas nụ hôn ngủ ngon – nụ hôn tiễn biệt – và ông nhẹ nhàng nằm xuống bên cạnh vợ, cùng nhau chìm vào giấc ngủ sâu thẳm đến vô cùng.

((Bình an nhé, Morze.))

Morze kính cẩn khép lại cánh cửa căn phòng nhỏ, như một đứa trẻ khoá kín những mộng mơ thuở thiếu thời để bước vào cuộc sống. Cait hoá thân, sải rộng đôi cánh bay vút lên, đưa cậu lên nóc của Thánh đường. Cậu phóng mắt nhìn quanh đảo Glas : cả hòn đảo lặng thinh, không còn một dấu hiệu của sự sống. Như vương quốc chịu lời nguyền của phù thuỷ mà chìm vào giấc ngủ, nhưng phép màu có thể cứu lấy vương quốc nằm đâu đó thật xa ngoài khơi kia, và người anh hùng phải dấn thân vào hành trình tìm kiếm nó. Morze rút hai khẩu súng dắt bên hông, bắn chỉ thiên hai phát súng. Viên đạn nổ tung giữa không trung, và một vòng ánh sáng toả ra, bao lấy hòn đảo trong ngàn muôn màu sắc như dải cực quang thường vắt ngang bầu trời Biển Băng những đêm tuyết ngừng rơi và bầu trời quang đãng. Đảo Glas từ từ chìm sâu xuống lòng biển, được bảo vệ khỏi những thị phi, những xấu xa dối trá trên đời. Những kí ức tuổi thơ quý giá trên đảo, tất cả được khoá lại trong lồng giam của nước, vĩnh viễn bảo vệ, vĩnh viễn đợi chờ một ngày được trở lại với ánh sáng, với cuộc sống bình yên vô tư lự đã đánh mất.

Lơ lửng trên không trung, Morze chờ đợi ánh bình minh của ngày hè cuối cùng thức dậy, trước khi Biển Băng bước vào mùa đông khắc nghiệt. Cait giật ống tay cậu, vẫy cánh nôn nóng bắt đầu cuộc hành trình.

“Đi thôi Cait. Đi tìm Quyển sách của Noah nào.”
CHUYỆN VẶT BÊN LỀ : Nhà chìm rồi thì đi đâu?

Mặt trời đã ló nơi xa, Biển Băng lấp lánh trong những tia nắng cuối cùng của mùa hè. Morze đứng trên lưng Cait, nói một cách hăng hái và đầy hứng khởi.

“Đi thôi nào, mà…đi hướng nào nhỉ?”

Morze nhìn quanh quất. Xung quanh chỉ có trời và biển, không thứ gì tồn tại ngoài sóng và gió. Đảo Glas cũng đã mất tăm dưới mặt biển rồi.

“Bản ghi chép chẳng nói con thuyền khởi hành từ đâu cả…”

Cait nhìn cậu chán nản, cái đuôi vẫy vẫy bực bội.

“Đi bừa nhé? Đông Tây Nam Bắc…”

Cait lộn vòng, trực tiếp quăng Morze xuống biển. Lúc lắp Cait cậu có vặn nhầm cái ốc vít nào không mà sao bây giờ nó trái tính trái nết như vầy???


Chương 1 : Indochina Area – I

Giữa rừng thinh lặng, tiếng gió lốc ào ạt dữ dội xé toang không gian thanh bình. Một bóng người lao ra khoảng rừng trống, rồi nhanh chóng biến mất sau tầng tầng cây rừng. Nhưng kẻ truy đuổi chưa dễ dàng bỏ cuộc đến vậy. Những cái bóng đen ngòm bay vút qua tầng cây thấp, gạt tung những chiếc lá khô héo vẫn còn đang gắng gượng chưa chịu lìa cành. Hứa Lạc Nguyên vừa chạy, vừa để ý tránh những sợi lông vũ nhọn hoắt phóng tới. Cậu vào cánh rừng này hái thảo dược và vô tình đánh động tới bọn quạ Crowen, và bây giờ cả bầy đang săn đuổi cậu. Nguyên quay lại tung lên không lọ thuỷ tinh chứa độc, rút tên bắn vỡ nó rồi rời đi ngay khi tiếng thuỷ tinh vỡ toang vang lên kèm theo tiếng rít ghê rợn của những con quái điểu bị trúng độc. Tiếng xác chết rơi lộp bộp trên đất làm cậu mừng thầm, nhưng ngay sau đó cảm giác những sợi lông phi lướt qua mang tai khiến cậu bật câu rủa. Bọn chúng quá đông, mà cậu sắp hết độc dự trữ. Nếu không cẩn thận mà bị quây lại, cậu sẽ chết một cái chết rất khó coi : bị hàng trăm cái lông độc đâm vào cơ thể như con nhím xù. Chân cậu đau nhức vì đã chạy thục mạng quá lâu, và một giây lơ đãng, một sợi lông chim cắm vào bắp chân, cơn đau tê dại khiến cậu ngã, lăn tròn trên đất, đập lưng vào tảng đá nghe “rắc” một tiếng. Phiến đá phẳng phiu gãy đôi, nửa trên của nó đổ ập xuống người cậu.

“Khỉ thật! ”

Nguyên gượng dậy, lo lắng nhìn xung quanh. Cậu không lo vì vừa lao đổ một tấm bia mộ hay vì đang ở giữa một khu nghĩa địa lổn ngổn những tấm bia vỡ, mà là vì những con mắt vàng khè của lũ quạ đậu trên hàng cây bao quanh khu mộ. Chúng đậu dày đặc các cành thấp, hàng chục cặp mắt vàng chế nhạo con mồi đã bị dồn vào đường cùng. Khu mộ nằm tại trảng trống không nhỏ, nhưng cũng không đủ để cậu chống trả, lại chẳng có gì để che chắn. Giờ chỉ cần một trận mưa tên là cậu chết. Đúng là cùng đường tuyệt lộ. Tên trong ống cũng chỉ còn vài mũi, Nguyên rút từ thắt lưng một khối kim loại hình trụ, vẩy mạnh. Cây thương bung ra, mũi thương sắc nhọn chỉ thiên, cậu nắm lấy cán thương lạnh, hướng sát ý về lũ quạ. Lũ quạ xù cánh, những sợi lông vũ ào ào phóng tới. Cây thương quay tròn trên tay, lông vũ bị chắn lại trước vòng bảo vệ loang loáng của vũ khí, nhưng Nguyên biết cậu không thể chống trả lâu. Lũ quạ trên hàng cây sau lưng chưa tấn công, nhưng chỉ là vấn đề về thời gian. Cậu sẽ không thể chống lại công kích từ hai phía, và sớm thôi khu mộ này sẽ có thêm một con ma. Một con ma trông giống con nhím, hoặc cái gối cắm kim, người đầy lông chim mà không phải chim.

“Áaaaa!!!”

Mưa tên ngừng lại, cả Nguyên và bầy quạ Crowen lặng thinh nhìn nhân vật vừa mới từ trên trời rơi xuống. “Một cậu trai”, Nguyên xác định, và trước sự kinh hãi của cậu, bọn quạ đồng loạt trừng mắt vàng khè đổi hướng tấn công, lông vũ vun vút bắn tới tấp vào người mới đang lồm cồm bò dậy.

“Nguy hiểm!”

Cậu trai kia nhanh nhẹn lăn một bên tránh mưa tên đang hung hãn bay tới, chạy chữ chi quanh những bia mộ đổ nát. Cậu ta vừa chạy vừa không ngừng gọi cái gì đó, nhưng Nguyên không nghe ra cậu ta hét cái gì, bánh kếp á? Cậu không nghĩ bánh kếp có thể giúp ích gì cho tình huống này, nhưng một vài con quạ quá chóng mặt với cậu trai lượn lách như chuột kia đã bắt đầu quay lại bắn cậu. Trong lúc Nguyên đánh văng mấy cọng lông sắt, một thứ gì đó tông vào lưng cậu, khiến cậu đập mặt vào đất. Cây thương rời tay, thu lại thành khối kim loại. Thế giới thốt nhiên tối hù, chỉ còn những đường sáng xanh leo lét, chiếu lờ mờ khuôn mặt từ lúc nào đã ngồi cạnh bên.

“Cốp!”

Nguyên nhảy dựng lên, đầu đập vào thứ gì đó đau điếng rồi lập tức sụm xuống, ôm đầu rên rẩm.

“Bình tĩnh nào, bọn chim kia không vào được trong này.”

Trước khi Nguyên có thể đáp lại, những tiếng coong coong chát chúa vang lên liên tiếp, khiến cái đầu ê ẩm của cậu càng lúc càng nhức hơn. Cậu nhìn người kia, đen toàn thân, da hơi nhợt trên tông đen của nền vải xơ xác, và một miếng băng đen băng lấy mắt phải. Cậu trai kia quay sang nhìn Nguyên, mắt đầy ngạc nhiên và có chút…tò mò hớn hở?

“Bọn chúng là loài quái gì vậy?”, cậu ta hỏi.

“Quạ Crowen. Tôi lỡ đánh động đàn bọn nó nên bị rượt. Mà này, cậu là ai? Thế nào lại rơi xuống đây? Từ trên trời?!”

“Tôi tên Morze. Lúc tôi đang bay qua đây thì bị thứ gì đó va phải và rơi xuống đây, rồi gặp anh đó.”

Vừa nãy, Morze đang nằm bẹp mệt mỏi trên người Cait sau chuyến bay dài trên biển với cuộc oanh tạc của bọn hải âu. Cậu đã bay gần một tuần mới đến được cánh rừng này, và đang thấy bấn loạn với tầng tầng lớp lớp cây trước mắt. Cậu thoát được khỏi biển nước đâu phải để lạc trong biển rừng chứ! Khi Morze còn đang chán và mệt bã, một thứ gì đó đen và mảnh bắn thẳng lên trên, sượt qua chân cậu. Và rồi một đống những thứ đó bắn lên liên tiếp, Cait mất thăng bằng, quăng cả hai xuống đất.

“Phần còn lại thì anh biết rồi đó, anh…”

“Nguyên. Hứa Lạc Nguyên. Gọi cậu là được rồi, tôi còn chưa đến hai mươi, gọi anh già quá.”

“Rất vui được gặp.”

Morze đưa tay ra bắt. Nguyên nắm lấy bàn tay cậu, nhìn vào con mắt trái màu lam. Con mắt trong và đầy hớn hở, không giấu giếm điều gì, khiến Nguyên rất tự nhiên tin tưởng cậu, không chút mảy may nghi ngờ.

“Tôi sẽ không coi tình huống này vui vẻ gì cho cam, nhưng cảm ơn đã cứu tôi một bàn.”

Tiếng ong ong đã lặng dần và tắt hẳn. Morze hé một lỗ hỗng trên tường giáp bao quanh nhìn ra ngoài, và đến giờ Nguyên mới nhận ra thứ đó là một đôi cánh lớn bằng kim loại, ôm trọn lấy hai người bọn họ.

“Bọn quạ ngừng bắn lông vũ rồi nhưng vẫn chưa rút. Chờ đến khi bọn chúng bỏ đi đã rồi ra khỏi đây.”

“Quạ Crowen nổi tiếng nhớ lâu thù dai. Bọn chúng có thể ngồi rình mấy ngày liền để săn được con mồi. Chúng ta chưa thoát dễ dàng vậy đâu.”

Morze ngồi xếp bằng chống cằm, nhìn Nguyên hỏi :

“Tôi nhìn bọn chúng như muốn móc mắt rỉa thịt chúng ta ra ấy. Cậu đã làm cái gì mà bị hận đến thế?”

“À…”, Nguyên gãi đầu gãi tai, “Tôi leo lên cây hái thảo dược, vô tình đạp trúng tổ của bọn chúng, làm rớt mấy quả trứng. Lũ chim này thù dai lắm, tôi đã chạy qua nửa cánh rừng rồi mà vẫn chưa thoát được. Còn cậu, cậu đã làm gì mà vừa xuất hiện đã bị cả bầy quay ra tấn công?”

Nguyên đá câu hỏi lại về cho Morze, khiến cậu đưa tay lên đỡ trán, gục đầu bất đắc dĩ.

“Tôi không biết. Mà không chỉ lũ quạ kia đâu. Thời gian tôi bay qua biển, không dưới ba lần gặp đàn hải âu, không lần nào bọn chúng tha cho tôi cả. Áo choàng của tôi bị bọn nó mổ cho nát bươm ra đây này, Cait cũng bị mổ đến phát cáu.”

“…”

Nhìn cái áo choàng đen xơ xác của Morze, Nguyên thấy tội tội cho cậu trai trước mắt. Cậu đã từng gặp người được nhiều loài chim yêu mến, nhưng bị ghét đến chừng này thì chưa bao giờ.

“Cait, thế nào rồi?”

Thứ đang bao bọc bên trên rung lên nhè nhẹ, và một cái đầu chim cúi xuống, cọ cọ vào người Morze. Một cái đầu chim bằng kim loại, những đường vân xanh toả ánh lờ mờ cùng con mắt ngọc nhìn thoáng qua Nguyên đang trố mắt nhìn lại, rồi quay lại rừ rừ những tiếng kêu như tiếng máy móc hoạt động. Morze vỗ vỗ nhẹ cái đầu, và thứ đó lúc lắc đầu vui vẻ.

“Bánh kếp á?”

“Không, Cait. C-a-i-t. Là con thú này đây.”

“Là cậu chế tạo nó à? Đáng kinh ngạc thật. Tôi chưa từng thấy kiểu dáng này bao giờ. Nó hoạt động…”

Những âm thanh như tiếng chuông đồng lại dồn dập vang lên, cắt ngang tràng câu hỏi liên thanh của Nguyên. Bọn quạ đã bắt đầu tấn công trở lại.

“Để sau đi. Nguyên, cậu có biết cách đuổi bọn quạ đi không?”

“Được rồi, cậu nhìn xem có con quạ nào màu trắng không?”

“Quạ trắng? Giữa bầy quạ đen? Thật à?”

“Cứ nhìn đi.”

Nguyên mò mẫm trên đất, thu lại cây thương đánh rơi. Cậu lục lọi túi đồ của mình, chán nản nhận ra mình đã dùng hết số độc mang theo. Chỗ thảo dược chưa chế biến kia thì không được việc gì.

“Cait bảo có. Nó đứng giữa bầy quạ, trông như con bồ câu bị đau mắt đỏ ấy.”

“Mắt đỏ? Thôi xong… ”

“Làm sao? Con chim mắt đỏ nghĩa là gì? ”

“Nghĩa là tôi đã đạp trúng tổ của Quạ chúa, và giờ cả bầy bọn nó đều muốn móc mắt rỉa thịt tôi ra.”

“… Cậu rất biết chọn tổ để đạp đấy Nguyên.”

“Không cần cậu nhắc.”

Bên ngoài, những con quạ đã bắn hết lông vũ đang rút trở lại cây, chừa chỗ cho những con quạ khác lên tiền tuyến. Cục sắt đằng kia vốn im re như tảng đá đột ngột rền rĩ một tiếng. Lũ quạ bị doạ, trơ ra nhìn đôi cánh vĩ đại sáng loáng giương lên quạt mạnh, gió ào ập tới khiến mấy con chim trên không bị bật ngược lại, ré lên trước khi đập vào thân cây, trượt xuống đất rũ rượi. Lũ quạ trên tầng cây thấp và những nhánh bên ngoài cũng chịu cảnh tương tự.

“Đi!”

Cũng đột ngột như khi xuất hiện, đôi cánh biến mất, hai cái bóng chạy vụt ra, toả sang hai phía rồi đan xen nhau tiến lại gần nơi Quạ chúa đậu. Một tràng đạn nã thẳng vào bầy quạ, khiến bọn chúng quang quác ầm ĩ, quạ chết rớt xuống, nhưng những con còn sống nhanh chóng xù lông, đuổi theo kẻ thù. Morze vừa nhắm bắn vừa chạy zig zag qua những bia mộ, trượt qua những phiến đá mà chỉ vài giây sau đã cắm đầy lông vũ chết chóc. Cậu lăn mình trên đất, điệu nghệ xoay người đổi hướng, dụ dỗ đám quạ đuổi theo mình. Bầy quạ rời đi một nửa, nửa còn lại quây kín bảo vệ Quạ chúa. Quạ chúa tức giận rít lên ken két, nhưng một hòn đá bay sượt qua đầu khiến nó im bặt.

“Ối! Nguyên! Ngắm chuẩn vào, cậu chọi đá trúng tôi rồi!”

“Xin lỗi!”

Đứng ở khoảng cách an toàn bên mé phải, Nguyên xoay nhẹ cổ tay, mũi thương lướt trên mặt đất, hất văng hòn đá lên cao. Hòn đá nhắm thẳng vào bầy quạ, đập trúng một con nhẹ hều. Con quạ quang quác kêu như khiêu khích, chọc quê, nhưng ngay lập tức một hòn đá khác phi tới đập vỡ mỏ nó. Những hòn đá bay nối nhau như đạn tỉa dần vòng bảo vệ, và thấp thoáng giữa đám lông đen xù xì đã thấy con mắt đỏ rực của Quạ chúa. Con quạ trắng nhách vẫy cánh tức tối, mỏ há hốc rít lên từng chập, không hề để ý đằng sau nó có một cặp mắt xanh lập loè đang rình sẵn. Một cú vồ nhanh gọn, Quạ chúa đã bị kẹp chặt trong miệng con rắn kim loại đang trườn xuống thân cây. Lũ quạ ré đến đinh tai nhức óc, nhưng từ từ im đi khi Quạ chúa bị kẹp chặt hơn, quàng quạc mấy tiếng đau đớn.

“Thắng rồi!”

Nguyên tóm lấy con quạ, trong khi Morze ôm lấy Cait, lúc này đã trở lại dạng báo đen, nựng nựng. Đàn quạ nhốn nháo khi thấy Quạ chúa bị bắt, chúng xù lên, lông chĩa thẳng vào hai người, nhưng chỉ giữ nguyên tư thế mà không dám manh động. Nguyên cầm cổ con quạ lắc lắc.

“Mày trông cũng béo tốt ra phết. Vặt lông đi làm nồi canh quạ hầm thuốc bắc chứ nhỉ? Hay quạ om sấu? À mà qua xừ mùa sấu rồi còn đâu…”

“Sấu là gì?”

“Hử? Một loại quả. Nấu với vịt ăn ngon lắm, nấu với Quạ Crowen chúa có khi thành cao lương mĩ vị ấy.”

“Cậu không định ăn nó thật đấy chứ?”

“Ăn chứ sao không? Hay mang về làm thú nuôi nhỉ? Thú quý hiếm giờ này bán được giá lắm.”

“Quác quác…!”
Morze nhìn Nguyên đang cãi nhau với Quạ chúa, cẩn thận quan sát. Nguyên mặc đơn giản : áo phông với quần bò, nhưng dây chằng chịt quấn quanh người cậu, trên mỗi dây gài những bao với túi nhỏ, có túi hơi mở để lộ vài chiếc lá còn xanh. Nguyên đeo chéo trên lưng một ống tên giờ đã rỗng, cây thương thu gọn gắn bên hông. Trang bị hơi kĩ quá cho một dược sĩ đang đi tìm thảo dược, nhưng Morze thấy may vì đã gặp được Nguyên. Nếu không thì, cậu đã có thể chết trong rừng ngay ngày đầu tiên đặt chân lên vùng đất mới.

“Nguyên, tha cho nó đi, là cậu gây hấn với bọn nó trước đấy chứ.”

“Giờ mà thả nó ra là cả bầy sẽ bắn chết chúng ta đấy. Mà cậu không muốn trả thù hả? Vô duyên vô cớ bị tấn công còn gì?”

“Sau năm lần bảy lượt bị chim biển oanh tạc thì giờ có bị bầy gà đuổi tôi cũng chịu được.”

“Đó sẽ là cảnh tượng hết sức là khó hiểu. Chắc tôi nên nhắc cậu tránh xa sa mạc ra. Cậu sẽ không muốn bị đà điểu đuổi đâu.”

“Tôi sẽ ghi nhớ vụ đó.”

Nguyên giơ con chim bị lắc đến rũ rượi lên, hỏi :

“Vậy, giờ thì sao?”

“Nhổ mấy cái lông của nó đi rồi thả. Có nó làm dấu hiệu, bọn quạ sẽ không tấn công.”

“Sao cậu biết?”

“Cait nói. Bọn quạ đồng ý với điều kiện của chúng ta miễn là Quạ chúa còn sống.”

“Cait nói chuyện được với thú vật hả? Tốt quá, tôi luôn muốn biết con sâu lười nhà tôi nghĩ gì.”

“Tuỳ loài thôi. Như bọn hải âu thì không giao tiếp được. Mà cậu nuôi sâu làm thú cưng à?”

“Để về tôi cho cậu xem. Tôi lại nghĩ bọn hải âu nghe hiểu đấy, nhưng nó lờ đi thôi.”

Trong khi Morze rùng mình khi nghĩ về việc cưng nựng một con sâu ú núc, Nguyên thành thạo nhổ lông con quạ như nhổ lông vịt. Cái phao câu nhanh chóng lộ ra, và cái cánh xơ xác chốc lát đã bị nhổ sạch sẽ. Quạ chúa oán hận nhìn Nguyên mà không làm được gì.

“Cậu nhổ gì mà lắm thế?”

“Cho bọn nó nhớ mặt Hứa Lạc Nguyên này, hồi sau vào rừng thì biết đường mà tránh.”

Quạ chúa lườm Nguyên đầy khinh bỉ, như muốn nhắc cho nhớ rằng vừa nãy ai mới là kẻ vừa bị rượt cho chạy toé khói.

“Xong! Cầm lấy này Morze. Ủa, cậu nhặt mấy cái lông làm gì?”

Morze đang lom khom nhổ mấy sợi lông cắm vào đá, quẳng vào cái túi Cait ngoan ngoãn ngậm ở miệng. Nghe Nguyên gọi, cậu ngẩng lên, tay vẫy vẫy mấy sợi lông cứng.

“Để cho Cait. Tôi sẽ cài thêm vào hệ thống máy, để nó có thể bắn lông vũ như bầy quạ vậy.”

“Cậu muốn biến Cait thành cỗ máy chiến tranh hả? Cẩn thận với mấy sợi lông đó, có độc đấy.”

“Ok.”

Quạ chúa tội nghiệp nhảy loi choi vào lùm cây, mỏ lách cha lách chách. Morze không thể không bụm miệng cười. Nguyên làm lông giỏi thật, cậu chọn những sợi lông đẹp nhất mà rút, đuôi với cánh trụi sạch bách, lớp lông tơ thì còn nguyên, trông như một cục lông trắng tròn cáu kỉnh thò ra cái mông vểnh với hai cái cánh khẳng khiu.

“Tôi cá vụ này sẽ thành mối thù truyền kiếp của bầy quạ.”

“Kệ bọn nó. Mình có giấy bảo kê rồi mà. Giờ cậu định đi đâu?”

“Tôi chưa biết. Quanh đây có làng hay thị trấn nào không?”

“Làng thì không có, chỉ có một thành phố to đùng thôi. Cậu chắc không biết gì về vùng này phải không? Đi với tôi đi.”

“Cậu không định bán tôi cho bọn buôn người đấy chứ?”

“Đến giờ mà cậu vẫn còn nghi ngờ tôi hả Morze? Không lo, tôi chỉ xử cậu nếu cậu phiền phức quá thôi.”

Nguyên thân thiện vỗ vào giữa lưng Morze, khiến cả hai giật bắn người khi nghe thấy âm thanh của thứ gì đó đâm toạc da thịt. Tay Nguyên đeo găng nên cậu chỉ cảm nhận được thứ gì đó nhọn nhọn đâm vào tay cậu, nhưng Morze thì không may mắn vậy.

“Quỷ thần ơi! Morze, cậu bị bắn trúng lúc nào vậy?”

Dọc sống lưng Morze, một đường lông vũ cắm thẳng vào da thịt. Sợi lông vũ mà Nguyên đập phải cắm gần nửa chiều dài vào người, nhưng Morze không có vẻ đau đớn, mà ngược lại tỉnh bơ nói.

“Vẫn còn à? Tôi nghĩ mình đã nhổ hết ra rồi chứ.”

“Bị lúc nào? Lông vũ độc lắm, bị cắm chừng này vào là coi như chết đấy! Chưa kể còn ảnh hưởng đến xương cốt nữa!”

Nguyên vừa nói đến líu lưỡi, vừa thoăn thoắt nhổ những sợi lông như khi cậu nhổ lông Quạ chúa. Cậu bỏ sạch các bước chuẩn bị phẫu thuật hay gây tê gì đó, bởi chỗ dược cậu mang đủ để cầm cự đến lúc về thành phố. Nguyên “soạt” một tiếng lột áo khoác của Morze ra, một tay lấy lọ thuốc, một tay vén áo trong lên, rồi trừng mắt nhìn. Những vết thương đang nhanh chóng lành lại, ngay cả vết rộng nhất do cậu gây ra cũng đang từ từ khép miệng, rồi mất tăm chẳng để lại một vết sẹo trên làn da nhợt nhạt.

“Tôi không sao mà. Chừng ấy chưa đủ để giết tôi đâu.”

Morze đậy lại nắp lọ thuốc còn giơ ra trên tay Nguyên, mặc lại áo choàng, rồi vỗ vỗ lên mặt Nguyên vẫn còn đang ngây người.

“Tôi chưa từng biết đến khả năng phục hồi nhanh đến vậy. Cậu…cậu là gì vậy, Morze?”

Morze lảng đi đôi mắt đen đầy ngỡ ngàng của Nguyên, rồi như đã quyết định, cậu gỡ miếng băng mắt xuống. Cặp mắt dị sắc đối diện với Nguyên, có nét buồn bã ẩn trong sắc xanh vàng lẫn lộn, nhưng trên hết là sự bình thản chấp thuận. Morze nghiêng đầu cười nhẹ.

“Một con người chăng, tôi đoán vậy. Hoặc chí ít cũng là đã từng.”

***

“Được rồi, đợi tôi chút nhé. Tôi đi giao hàng xong rồi chúng ta cùng về.”

Nguyên nhanh chóng biến mất vào toà nhà cổ kính rêu phong trước mắt. Lúc này đã là cuối chiều, ráng chiều vàng kim phủ trùm lên những đường phố ngoằn nghèo, để lại những cầu thang tối om và những bóng người đổ dài trên đất. Morze ngước nhìn lên, choáng ngợp trước công trình kiến trúc trước mắt. Nguyên đã gọi nơi này là “khu tập thể”, một toà nhà to đùng có rất nhiều người ở. Trên đảo không có những toà nhà cao và dài đến vậy, kiến trúc cao nhất là toà thánh đường, nhưng vẫn chẳng là gì so với toà nhà trước mắt. Cait trong dạng mèo con thò đầu khỏi túi áo, ngó nghiêng xung quanh.

“Thành phố là vậy hả?”

Cait rù rừ, tỏ ý cũng kinh ngạc chẳng kém chủ nhân của nó. Morze ngó ngang ngó dọc, hết nhìn thứ này lại đến sờ mó thứ khác. Hai cô gái đi ngang qua cậu cười khúc khích, nhưng cả chủ cả tớ đều không để tâm. Núp trong bóng đổ của toà nhà, một bóng người nhìn Morze táy máy, đôi mắt đen chăm chăm dõi theo ánh lấp lánh của thứ gài nơi thắt lưng, khoé miệng kéo lên nụ cười gian tà.

“Một tên nhà quê lên tỉnh hả? Vớ bẫm rồi.”

Morze đang sờ sờ cậy cậy con sư tử đá đặt trước cửa toà nhà thì có người gọi cậu quay lại. Trước mặt cậu, một cô bé lùn xủn, thấp hơn cậu nguyên một cái đầu, tóc hoe hoe nhìn cậu cười mủm mỉm. Đôi mắt màu hổ phách của cô bé chợt biến màu, hoá thành sắc bạc lóng lánh như thuỷ ngân cuồn cuộn lay động. Cô bé nghiêng đầu cười dễ thương.

“Anh đẹp trai, muốn coi bói không?”

***

“Cảm ơn nhé, tiền công của cháu đây.”

“Cháu xin, cảm ơn ạ~”

Nguyên nhận lấy những đồng bạc của ông lão gầy yếu trước mặt, nhanh nhẹn cất vào hầu bao.

“Ông trông xuống sắc quá, ông có thể tự lo được không ạ? Hay để cháu sắc thuốc cho. Cháu nhớ Mai hôm nay đi vắng đúng không?”

“Không sao, lão già này chưa đến mức như vậy đâu. Chỉ là không thể đi xa được nên nhờ cháu lấy thuốc thôi. Mà bọn quạ Crowen hung dữ thật đấy, trông cháu tệ quá.”

“Ông bảo gì cơ?”

Nguyên trợn tròn mắt. Ông cụ nhìn lại cậu khó hiểu.

“Bọn quạ Crowen trong khu rừng ấy. Ông có bảo Nhân dặn cháu cẩn thận rồi mà. Khu vực cây thuốc này mọc nằm trong khu sinh sống của bọn nó.”

“À vậy à… Cảm ơn đã bảo cháu.”

Nguyên cố gắng chào tạm biệt bằng cách nhã nhặn nhất hết sức có thể, nhưng khoé mắt giật giật báo rằng cậu đang tức, cực kì tức. “Vèo” một cái, Nguyên chạy rầm rầm xuống ba tầng lầu, phi ra ngoài cửa.

***

Tsukuyomi ngẩng lên nhìn anh trai nhà quê trước mặt, khai triển năng lực. Nhưng những hình ảnh thường thấy ngay khi cô sử dụng năng lực không thấy đâu, mà thay vào đó, hàng chục, hàng ngàn, vô số những dòng chữ số xanh lập loè đảo trước mắt. Những dãy số vô tận đó, nó không ngừng thay đổi, mỗi lần thay đổi nó lại mang đến những thông tin khác nhau mà Tsukuyomi không thể hiểu, nhưng những thứ đó cứ không ngừng tràn vào đầu cô. Quá nhiều thông tin, quá nhiều dữ liệu… Tsukuyomi ôm đầu hét lên.

“Aaaaa!!!”

“Cái…bình tĩnh! Có chuyện…”

Morze giật nảy khi cô bé lạ đột ngột tiếp cận cậu, nhìn chằm cậu một lúc gào thảm. Đôi mắt bạc của cô bé vẫn không rời khỏi cậu, con ngươi run rẩy, những tơ máu nổi đầy tròng mắt. Morze đỡ lấy thân thể chao đảo của cô bé, nhưng cô đẩy mạnh cậu ra, khuỵu xuống đất. Ngay khi tiếp xúc mắt bị mất, Tsukuyomi cũng thoát khỏi ảo giác về những con số. Cô gạt cánh tay giơ ra của Morze, lùi xa cậu, tự dựa tường đứng lên, đôi mắt bạc đã trở lại màu hổ phách nhìn cậu đầy kinh hãi.

“Anh…anh là cái quái gì vậy?”

“Morze!”

Nguyên chạy sầm sập xuống cầu thang thì thấy Morze đứng cùng một người khác. Không phí một giây giảm tốc, cậu nhảy khỏi ba bậc thang cuối, một bước nhảy thẳng ra sân.

“Nguyên!”

Nghe tiếng gọi, Tsukuyomi ngẩng lên, nhận ra Nguyên, và Nguyên cũng nhận ra cô.

“Tsuku! May quá gặp em!”

“Vừa nãy anh gọi người này à?”

“Ừ! Em dẫn cậu ta về quán hộ anh. Anh chạy trước đây!”

“Ê! Đợi…”

Không đợi Tsukuyomi trả lời, Nguyên dông thẳng, chẳng mấy chốc đã mất hút trong những con ngõ ngoằn nghèo. Cô quay sang bên cạnh, anh trai tên Morze kia cũng đã mất tăm.

***

Nếu bảo Nguyên chạy nhanh nhất nhì cả thành phố này thì Morze còn chạy nhanh hơn, nhưng lợi thế thuộc đường khiến Morze phải vất vả mới theo được Nguyên. Chỉ một giây mất dạng thôi là Morze bị mất giấu giữa hàng chục đường ngang ngõ hẻm, và cuối cùng theo một cách nào đó, cậu cũng theo được Nguyên đến một cửa hàng treo biển hình con mèo. Còn chưa động đến tay nắm cửa, Morze đã bị tiếng quát của Nguyên làm giật mình. Người vùng này thích hét lắm à? Cả Nguyên và cô bé con tên Tsu-gì-đó kia nữa.

“Hứa Lạc Nhân cái đồ mắc toi nhà anh!!!”

Morze mở cửa bước vào quán, và đập ngay vào tầm mắt là Nguyên, ngồi xổm trên cái quầy đối diện cửa, tóm cổ áo một người. Người đó cũng có mái tóc đen buộc sau gáy như Nguyên, cũng có khuôn mặt như Nguyên. Người đang bị Nguyên nắm cổ áo kéo lên trông giống hệt cậu ấy.

“Cậu về sớm thế, anh tưởng mấy ngày nữa cậu mới về. Bình tĩnh nào, anh làm gì cậu đâu mà nhặng xị lên?”

“Em được cho quá giang…còn bảo không?! Anh thừa biết khu rừng đó có quạ Crowen mà không cảnh báo em một tiếng!”

“Ồ…anh quên mất rồi. Đãng trí thật đấy. Bảo sao trông cậu tả tơi vậy.”

“Quên quên cái đầu vứt đi nhà anh! Ông Hùng nói đã nhắc đi nhắc lại anh rồi! Anh cố ý phải không? Thấy em anh tả tơi thế này sướng lắm hả???”

“Nhà anh cũng là nhà cậu mà Nguyên. Chưa kể nó cũng đã toi rồi.”

“Hai thằng ranh kia! Muốn đánh nhau thì ra ngoài, tanh banh hết quán của tôi rồi!”

Tiếng gầm đầy uy lực của người đàn ông lực lưỡng vừa xuất hiện khiến ai nấy có mặt trong quán giật bắn. Nguyên phụng phịu buông cổ áo ông anh trai quý hoá ra, nhảy khỏi quầy, ngạc nhiên nhìn Morze đứng ở cửa.

“Cậu đi nhanh thật đấy. Tsuku đâu rồi?”

“Ai cơ?”

“Con bé đứng cùng cậu.”

“Em đây… Hai người thi chạy việt dã à?”

Tsukuyomi thở hổn hển, vừa bước vào đã vội kiếm cái ghế ngồi xuống. Cô đã chạy suốt đường đến đây để đuổi theo hai người kia, chân cẳng rã hết ra, đầu vẫn còn nhức do ảo giác vừa nãy. Tsukuyomi nhìn Morze nghi ngại, vô thức dịch ghế tránh xa cậu một đoạn.

Morze nhìn những vị khách khác vẫn điềm nhiên dùng bữa như chưa có gì xảy ra, lòng đầy thắc mắc. Nguyên nói gì đó với người chủ quán rồi kéo cậu ra sau quầy, bước lên cầu thang xoáy dẫn lên tầng ba, vào căn phòng ở ngay cạnh cầu thang. Thấy Nguyên nằm sụp xuống giường mỏi mệt, Morze cũng kéo ghế ngồi, gọi Cait đang ngủ ra, đặt vào lòng. Cait ngoác miệng ngáp, ngó nghiêng xung quanh một lúc rồi nhảy khỏi lòng cậu đi thám thính xung quanh.

“Cứ tự nhiên như ở nhà.”

Từ giữa đám gối, giọng Nguyên nghèn nghẹt truyền ra. Morze nhìn quanh : đây chắc hẳn là phòng riêng của Nguyên. Quần áo vứt bừa một góc, căn phòng rộng rãi trở nên chật chội khi đồ đạc rơi rải rác trên sàn. Duy có một góc phòng đặt cái bàn gỗ, giá sách và những lọ thuỷ tinh đầy màu sắc là rất gọn gàng. Trên bậu cửa sổ, những bình đất trồng cây đặt ngay ngắn theo thứ tự màu cầu vồng.

“Mọi người cư xử như việc thấy cậu nhảy lên bàn túm cổ người khác là chuyện thường ngày vậy.”

“Thì nó là chuyện thường ngày phố huyện mà. Khách của quán hầu như đều là khách quen, ai cũng thấy nhờn cảnh tôi với anh trai đánh lộn rồi.”

“Anh trai cậu?”

“Ừ, anh song sinh của tôi, Hứa Lạc Nhân. Anh ta xấu bụng lắm, toàn chơi khăm tôi. Mọi lần thì cũng chẳng sao đâu, nhưng lần này mà không có cậu tôi chết chắc rồi.”

Nguyên lăn ngửa người ra trên giường, tay chân duỗi dài hết cỡ. Morze cũng quyết định ngồi bệt dưới đất cho thoải mái.

“Còn cô bé Tsuku-gì-đó?”

“Tsukuyomi. Con bé cũng là khách trọ ở đây, như tôi với Nhân vậy. Mà sao tôi thấy nó có vẻ sợ sợ cậu? Lúc tôi lên gác hai người nói chuyện gì?”

“Cô bé lại hỏi tôi có…cái gì…coi bói không thì phải.”, Morze đưa tay lên chạm vào con mắt phải, “Sau đó mắt cô bé chuyển thành màu bạc, rồi cô bé hét lên. Cùng lúc đó mắt phải tôi cũng rát bỏng, nhưng hết ngay khi tôi rời mắt cô bé.”

“Đi đêm cho lắm vào, gặp ma rồi đấy Tsuku.”

“Hả?”

“Cậu đói chưa? Sửa soạn chút rồi xuống ăn tối nào, tiện thể tôi giới thiệu mọi người luôn.”

Nguyên đổi chủ đề xoành xoạch, khiến Morze quay theo cậu đến chóng mặt. Nguyên ném cho cậu bộ quần áo sạch, cậu thay ra, vắt áo choàng trên ghế, nhét xuống gầm bàn túi đồ đạc, đặt Cait lên vai. Cait ngáp ngắn ngáp dài, mở mắt nhìn cậu rồi bám vào áo, ngồi ngăn ngắn trên vai cậu.

“Cứ để súng trên phòng đi, lúc ăn không ai mang vũ khí đâu.”

“Được rồi.”

Nguyên cũng đã thay đồ, trên cánh tay trần có mấy vết băng bó.

“Tôi mà lành vết thương nhanh được như cậu thì tốt quá, đỡ tốn công băng bó này nọ. Mà cậu gầy thật đấy. Đồ cũ của tôi mà cậu mặc vẫn còn rộng này.”

“Ngày nhỏ bọn trẻ trong làng toàn gọi tôi là đồ con gái thôi. Một lần bọn nó hè nhau đánh úp tôi, bắt tôi mặc váy.”

“Sau đó thế nào?”

“Tôi đập cả bọn một trận, thương tích thì có…để tôi nhớ…có cái răng cửa lung lay với mấy vết bầm. Về sau bọn nó không dám trêu tôi kiểu đó nữa.”

“Tuổi thơ cậu dữ dội thật. Tôi cứ nghĩ cậu là kiểu thư sinh chứ.”

“Thư sinh?”

“Dạng chăm ngoan ngồi phòng đọc sách luyện chữ ấy.”

“Vậy hả? Với mười năm đọc sách trong thư viện, tôi chắc đủ tiêu chuẩn làm “thư sinh” rồi đó.”

“Không được đâu, vì chẳng có thư sinh nào đánh nhau như cậu cả.”

“Và cũng không có thư sinh nào mà ngó ngang ngó dọc như tên ngố cả.”

Tsukuyomi ra khỏi phòng, lách qua Morze, chạy vụt xuống cầu thang.

“Lại bị ghét vì lý do không rõ rồi.”

“Không sao, lát nữa là rõ ngay ấy mà. Con bé không ghét người vô cớ đâu. Tự làm tự chịu thôi.”

“Nãy giờ cậu toàn cho tôi mấy lời lấp lửng thôi Nguyên.”

“Thế hả?”

Lúc này quán ăn đã vơi bớt người, Morze thấy chủ quán đang lúi húi trong bếp, Nhân vẫn ngồi sau quầy, Tsukuyomi thì đang rúc trong góc, cô bé liếc nhìn cậu một tí rồi quay ngoắt đi.

“Morze, cậu ăn gì? Tôi mời.”

“Tuỳ cậu đi, tôi không kén ăn đâu.”

Đồ ăn nhanh chóng được dọn ra, đĩa cơm rang thơm phức hấp dẫn chẳng mấy chốc đã hết veo. Cait cũng no bụng, ngồi trên ghế liếm láp chân tay.

“Nguyên, cậu dẫn ai về ra mắt vậy?”

Hứa Lạc Nhân bước ra cửa, treo biển đóng quán rồi kéo ghế ngồi cạnh Nguyên. Anh đã quan sát cậu trai kia từ lúc cậu xuất hiện, nhưng vẫn có đôi chút nghi ngại nhàn nhạt về cậu ta. Nhân chưa bao giờ tin vào thứ gọi là linh cảm, nhưng lúc này linh cảm lại khiến anh thấy ngờ vực. Dẫu vậy, anh vẫn thân thiện cười với người kia.

“Morze, đây là anh trai tôi. Nhân, đây là Morze, người vừa cứu em khỏi cảnh chết mất xác trong rừng Hương đấy.”

“Chào anh.”

Nhân siết lấy tay Morze rồi buông ra. Bàn tay thon dài hơi nhợt, nhưng cảm giác lành lạnh khiến Nhân bất giác chùi tay vào áo. Như thể trong thân xác ấy không có chút hơi ấm của máu thịt nào vậy.

“Tay cậu lạnh thật.”

“Vậy sao, tôi không nhận ra đấy.”

“Mùa hè ôm cậu chắc mát lắm.”

Nguyên nói xong liền đứng dậy, bê bát đũa vào bếp. Người chủ quán đang loay hoay cạnh bồn rửa mà không thấy cô người làm đâu.

“Bác Vlad, cô Huyền đâu?”

“Bác cho cô về trước rồi.”

“Nhân cũng đã đóng cửa quán sớm. Là vì Morze à?”

Nguyên lấy hai quả táo trong rổ, đưa một lên miệng cắn. Cậu thò đầu khỏi bếp, ném quả táo vào đầu Nhân. Quả táo bay một vòng cung hoàn hảo, đập vào đầu Nhân rồi nảy lên, rơi trúng vào tay Morze. Trước khi anh cậu kịp quay lại, cậu rút vào bếp, ngồi lên bàn gặm táo.

“Cháu gặp cậu ấy ở đâu?”

“Trong rừng Hương. Cậu ấy rơi từ trên trời xuống. Bác biết cậu ấy à?”

Vladimir xếp những cái đĩa cuối lên giá, lau tay vào cái khăn treo trên tường. Tiếng nước nhỏ giọt tong tong xuống bồn rửa như đếm khoảng thời gian im lặng. Quả táo gặm hết chỉ còn lõi, Nguyên cầm cái lõi táo vung vẩy một lúc rồi ném vào sọt rác.

“Nó trông rất giống một người bác từng gặp, dù khi đó nó mới còn nhỏ xíu. Cũng đã 10 năm rồi, mà người giống người thì ở đâu cũng có. Bác cũng không chắc lắm…”

Vladimir đã gần nửa đời lênh đênh trên biển trên thuyền buôn của gia đình. Từ những ngày đầu của thế giới mới, ông nội ông đã nằm trong số những người tiên phong nối lại liên lạc với các khu vực còn sót lại sau những cuộc khủng hoảng và thiên tai toàn cầu, và cha ông, rồi ông đã thừa kế sự nghiệp của gia đình. Chừng ba năm trước, ông truyền lại nghề cho con trai và định cư ở Khu vực Đông Dương, mở quán ăn kiêm nhà trọ này. Gọi là nhà trọ nhưng cũng chỉ có vài ba phòng, hầu hết đã được thuê lâu dài. Khách trọ chỉ gồm anh em họ Hứa và cô bé từ Khu vực Taiyouji, và ông, sống trong căn nhà ba tầng nằm trong góc khuất thành phố.

“Vậy hỏi cậu ấy là được mà.”

Nguyên nhảy khỏi bàn, kéo Vladimir còn hơi do dự ra khỏi bếp. Nhưng trước mắt cậu không phải là cảnh trò chuyện thân thiết ấm áp gì, mà lại đầy sát khí lạnh người. Morze ngồi mặt đối mặt với Nhân, trên cổ, một vòng sáng mảnh để lộ rằng tính mạng cậu đang nằm trong tay của Nhân. Chăng xung quanh hai người họ là từng lớp tơ óng – vũ khí của Nhân. Morze đã không còn nụ cười thân thiện, cậu nghiêm mặt, con mắt lam biếc thoáng nhìn qua Nguyên, rồi quay lại nhìn anh cậu. Nguyên lạnh người. Con mắt xanh lạnh lẽo đến độ cậu như đối mặt với một bầy quạ Crowen mà không một vũ khí phòng thân. Cặp mắt ấy…cặp mắt vô nhân tính của một Clockworker.

“Vậy bây giờ cậu vui lòng nói cho tôi cậu là cái gì được chứ?”

***

“Morze phải không? Cậu bao nhiêu tuổi?”

“17.”

“Ồ, vậy là kém tôi với Nguyên 2. Cậu đến từ đâu vậy?”

“Một hòn đảo nhỏ thuộc Biển Băng.”

“Ý cậu là Khu vực Eurasian?”

“Nếu đó là cách anh gọi vùng biển phía Bắc thì là vậy.”

Sau khi Nguyên rời đi, Nhân pha trà, đặt trước mặt Morze một tách trà nóng, và bản thân cũng cầm tách của mình nhấp một ngụm.

“Cậu đi du lịch à?”

“Không hẳn.”

“Cho tôi biết được không?”

“Ừm, trà đắng quá. Mà tại sao tôi phải nói hết thông tin cá nhân của mình cho người lạ chứ?”

“Vì tôi thấy cậu rất lạ.”

Những câu thăm dò cứ lần lượt được ném qua ném lại. Trong suốt khoảng thời gian ấy, Nhân không một lần rời mắt khỏi Morze. Anh nhìn miếng băng mắt nghi ngại, đoán chừng xem dưới đó đang che giấu điều gì. “Binh” một tiếng, Nhân gần đập mặt xuống bàn. Morze bắt lấy quả táo lăn về phía cậu, và Nguyên rụt đầu vào bếp. Nhân xoa đầu cáu kỉnh, nhưng trong mắt hiện lên, không phải khó chịu hay cáu bẳn, mà là một thoáng nuông chiều.

“Cậu biết không, từ lúc nhỏ Nguyên đã có tính nhặt người dưng về. Cậu có thể bảo nó là một người tốt, nhưng với tôi, rất phiền phức khi nó cứ tiếp tục làm vậy.”

Morze đưa tay xoa đầu Cait đang cuộn tròn trong lòng. Cait ngẩng lên, mắt xanh chớp nhẹ, rồi nhảy lên bàn ngồi.

“Lớn rồi thằng bé vẫn thế. Tsukuyomi cũng là do nó đem về đây.”

“Ý anh là tôi nên biến đi cho khuất mắt phải không?”

“Tôi hỏi, cậu không thấy bản thân đáng nghi hay sao? Từ trên trời rơi xuống, rất thuận tiện gặp ngay Nguyên. Cậu có thể bảo đó là may mắn, nhưng rừng Hương không phải là nơi đông vui nhộn nhịp gì cho cam. Gặp người giữa vùng hoang vu, giống như đào được cục vàng giữa sa mạc vậy. Nguyên là người dễ tính, nhưng không hề bất cẩn và tin người.”

“Những thứ anh nói chưa đủ để phán xét tôi. Vậy trong mắt anh, tôi đáng nghi ở đâu nào?”

“Khí. Trường khí của cậu không giống một vật sống. Đúng hơn thì, nó chẳng giống cái gì cả. Cậu làm tôi cảm giác như mình đang nói chuyện với một sinh thể tồn tại lưng chừng ranh giới vậy. Và nụ cười của cậu, cậu cất nó đi nhanh thật đấy.”

Nhân búng tay cái “tách”, từ vô định, những sợi tơ bung ra, đan vào nhau thành một mạng lưới vô hình mà sắc bén. Sợi tơ mảnh kề sát cổ Morze, nếu như là người thường thì đã run rẩy khi cảm giác ớn lạnh truyền dọc sống lưng, nhưng Morze vẫn bình thản như không.

“Có gì đó bảo tôi rằng tốt nhất tôi nên lấy cái mạng cậu. Nhưng có lẽ tôi nên giành chút thời gian để mà biết về cậu đã.”

“Thật hân hạnh cho tôi làm sao, dù tôi chẳng hiểu cái “khí” với “ranh giới” anh nói là gì cả.”, Morze mỉa mai.

“Cậu gặp Tsukuyomi rồi đúng không? Đôi mắt bạc của nó như nào?”

“Màu bạc, tất nhiên.”

“Cậu không có vẻ ấn tượng gì lắm, nhưng Tsuku đã nhận một trận đau điếng. Bằng cách sử dụng năng lực trong đôi mắt, Tsuku có thể thấy được quá khứ của một người. Cậu đoán xem con bé đã thấy gì?”

“Hi vọng không phải là mấy chuyện đáng xấu hổ hồi nhỏ của tôi.”

“Mã lệnh, Morze. Suy nghĩ của cậu, kí ức của cậu là một tổ hợp các dãy con số biến thiên không ngừng. Nghe giống máy móc đúng không?”

“…”

“Cậu hẳn phải biết “Đại dịch Clockwork” chứ, Morze. Nhưng cậu lại không phải. Tôi chưa từng biết một Clockworker cũng có thể mang Khí của Sự sống. Nhưng cậu cũng không phải con người. Không con người nào chịu được loại độc tôi thả vào trà cả.”

“Anh thả độc vào trà?”

“Đúng vậy. Đắng, đúng không?”

“Đắng nghét.”

“Tốt. Vậy bây giờ cậu vui lòng nói cho tôi cậu là cái gì được chứ?”

Nhân chăm chăm nhìn Morze, rồi không thể kiên nhẫn hơn nữa, anh chồm tới, định giật miếng băng mắt ra. Đôi tay vươn ra dừng lại giữa chừng khi họng súng lạnh áp vào sau gáy. Súng lên đạn kêu khô khốc một tiếng, cây súng toả quầng xanh nhàn nhạt lơ lửng giữa không trung, sẵn sàng nhả đạn theo lệnh của vị chủ nhân điềm tĩnh của nó.

“Cậu biết mạng cậu vẫn nằm trong tay tôi chứ? Dù có là người hay máy, mất đầu vẫn là mất đầu thôi.”

Nhân đứng hẳn dậy, tay với lấy những sợi tơ. Một dấu hằn hiện trên cổ Morze khi tơ siết cổ cậu.

“Tôi không nghĩ có ai lại muốn tìm hiểu xem chết vì đứt đầu hay chết vì nổ đầu nhanh hơn, nhưng nếu anh muốn thì tôi sẵn sàng.”

Họng súng vẫn nhăm nhăm ngắm vào đầu Nhân. Hai người gườm gườm nhìn nhau, ngón tay đặt sẵn trên vũ khí, sẵn sàng khai hoả.

“Dừng lại! Cả hai người!”

Nguyên đứng lặng im quan sát một bên nãy giờ chợt bừng tỉnh. Cậu chạy đến, đập tay cái “rầm” xuống bàn. Cái tách trà chao đảo và cuối cùng đổ, nước trà tràn lênh láng trên bàn.

“Morze là do em mới rơi từ trên trời xuống! Còn là máy hay là người thì hỏi có ích gì, chính cậu ấy còn chẳng biết bản thân là gì cả!”

“Nguyên, cậu/em vừa nói…”

“Hạ vũ khí xuống!”

Nguyên sững sờ khi thấy Morze có biểu cảm lạnh lẽo và vô cảm đến vậy, nhưng vài tiếng ngắn ngủi biết Morze đã đủ để cậu tin tưởng. Ai chẳng có những mặt tính cách khác nhau, nhưng Morze không phải loại người máy máu lạnh đó. Chắc chắn không thể.

“Nguyên, nhắc lại câu trước.”

“Ế? “Là máy hay người”…”

“Trước nữa.”

“Morze là do tôi mà rơi xuống…”

“Là sao?”

“Mấy sợi lông làm cậu ngã ấy Morze, hẳn là do tôi đánh bật lên bằng thương…nên ừm, là do tôi lôi cậu xuống, còn lợi dụng cậu để thoát thân nữa.”

Nguyên chọt chọt ngón trỏ vào nhau ra chiều hối lỗi, nhìn Morze đáng thương.

“Tôi thì không sao, nhưng tôi nghĩ Cait thì chưa bỏ qua đâu.”

“Ý cậu là…ái!”

Chẳng biết từ lúc nào Cait đã biến thành con chim nhỏ im re bay lên đầu Nguyên, và đang tận lực rứt tóc cậu.

“Cait Cait Cait! Xin lỗi mà! Vô…vô ý thôi!”

Nhân nheo mắt nhìn con thú biến thân. Lò xo và bánh răng, bu lông và ốc vít, cấu tạo và cách vận hành hệt như một Clockworker : cổ lỗ so với những máy móc của thế giới trước Tận thế, nhưng hiệu quả.

“Morze, gọi thú của cậu lại tha cho Nguyên đi.”

Nhân thả người ngồi xuống ghế, nhìn em trai nhảy loi choi với con chim trên đầu. Tsukuyomi cũng tham gia bắt chim, hai người chân cuốn nhau ngã thành một đoàn trên đất. Vladimir đến xách cổ cả hai dậy, tóm lấy Cait ném cho Tsukuyomi.

“Cait có ý thức của riêng mình, nhiều lúc tôi nói nó không nghe đâu.”

Cait giờ bị tóm chặt trong tay cô bé mắt long lanh, hốt hoảng biến lại dạng mèo giãy giụa. Tsukuyomi mắt sáng lên, càng siết chặt Cait hơn. Cait meo lên cầu cứu thảm thiết.

“Lạc Nhân?”

“Ừ?”

Morze với tay, nắm lấy khẩu súng lơ lửng trong không trung, tháo ổ đạn, bày ra trên bàn những viên đạn xanh ánh kim.

“Thứ này là…kim thạch? Cậu từng đến đảo Glas?”

Những viên đạn ánh xanh trong suốt, cùng chất liệu với khẩu súng, được làm từ thứ kim loại hiếm trên đảo Glas. Từ sau khi hòn đảo bị coi lập 10 năm trước, nguồn cung khan hiếm đã đẩy giá thứ kim loại gọi là kim thạch này lên cao ngất. Nhân đã từng thấy những con tàu hay đồ dùng được mạ kim thạch, nhưng độ tinh khiết gần như tuyệt đối này là lần đầu tiên. Trong 10 năm, người ta đã đi tìm đỏ cả mắt nguồn quặng thay thế cho kim thạch mà không có kết quả. Cả đống người sẵn sàng trả cả đống tiền để có được thứ này.

“Tôi đến từ đảo Glas. Và như Nguyên đã nói, tôi bây giờ cũng không biết mình là gì. Vậy nên câu hỏi của anh tôi không thể trả lời.”

Nhân đã nới lỏng tơ trên cổ cậu, nhưng vẫn còn những sợi tơ giăng xung quanh như chuẩn bị đóng kén cậu lại. Morze đưa tay bắt lấy một sợi tơ trong không trung, miết mạnh một đường. Máu thấm dần từ bàn tay nắm chặt, nhỏ xuống vũng trà đọng trên bàn, chảy dọc sợi tơ thành một đường chỉ đỏ cắt ngang không trung.

“Morze!”

Nguyên kéo vội tay cậu ra khỏi sợi chỉ, nhưng Morze giật tay lại, xoè ra lòng bàn tay đỏ máu và một vết thương ăn sâu vào da thịt.

“Nguyên, cậu biết vết thương của tôi sẽ lành lại ngay mà.”

“Nhưng ai cho cậu tự cắt tay mình như thế? Cậu là M à?”

“M là gì?”

“Là…”

“Bỏ đi. Nguyên, cậu đâu phải mẹ tôi, không cần lo lắng cho tôi đến vậy.”

Trước mắt Nhân, vết thương sâu hoắm ồ ạt đổ máu đã lành lại và biến mất như chưa từng xuất hiện. Morze dùng khăn lau máu, để lộ lòng bàn tay lành lặn không một vết trầy.

“Clockworker có thể tự chữa lành như này không?”

“Tôi chưa từng biết. Ít ra tôi biết chúng sẽ không chảy máu như cậu.”

Vũng trà trên bàn bị máu lan vào chợt đen xạm lại và bốc mùi ngòn ngọt lờ lợ. Nguyên bịt mũi, đoạn quay ra đạp Nhân.

“Anh lại lấy độc của em? Lại còn thả độc Morze nữa?! Cậu ấy cười đến chết thì sao?”

“Phép thử thôi mà…”

“Morze chết thì sao?!”

“Cậu ta có chết đâu?”

“Đừng có đổi câu hỏi!”

Nguyên và Nhân lục đục đánh nhau, Morze bị cái bàn chèn vào bụng, cựa quậy lách khỏi đống tơ giăng lung tung.

“Đau!”

“Anh đã bảo cậu tránh ra rồi mà, anh đã thu tơ lại đâu.”

“Morze gỡ cả đạn ra rồi mà anh vẫn không thu lại?”

“Ngậm miệng lại rồi cầm máu đi.”

“Cái ngày xúi quẩy gì thế này… Ê ẩm quá…”

Tay Nguyên va phải một sợi tơ vương, cắt một đường. Cậu lấy cái khăn Morze vừa lau máu rịt vào vết thương, toan kiếm bông băng thuốc đỏ thì ngừng lại. Vết thương đang dần khép miệng, nhưng những chỗ không dính máu của Morze trên khăn vẫn còn nhức nhối. Trên mu bàn tay Morze hiện đường máu cắt qua, rồi nhanh chóng lành lại.

“Hơ, tiện thật. Sau này không phải mang hộp cứu thương theo rồi.”

Nhân thu hết tơ lại, cướp lấy cái khăn tay lau máu đọng trên sợi tơ. Nguyên vẫn còn đang ngơ ngác thì Morze nắm lấy tay cậu, dùng máu mình thoa lên vết thương.

“Morze!”

“Không sao, vết thương nhỏ thôi mà.”

Tay Morze lúc này đã ướt đầm toàn máu, đỏ đến nhức mắt. Cậu giơ bàn tay lên, huơ huơ trước mặt Nguyên.

“Thấy không, lành hết lại rồi.”

“Nhưng mà đau!”

“Vẫn còn đau à?”

“Không phải tôi đau! Lo cho bản thân cậu đi!”

Trong khi Morze đi rửa sạch máu trên tay, Nhân bị phạt lau sạch cái bàn bị độc làm cháy một lỗ. Nguyên đang xoa xoa mu bàn tay vừa bị thương thì Nhân thả khẩu súng với mấy viên đạn vào lòng cậu.

“Lạc Nhân…”

“Gì?”

“Anh vẫn hận Clockworker?”

“Phải.”

“Nhưng Morze đâu phải Clockworker?”

“Cùng một giuộc cả. Em biết chuyện 10 năm trước trên đảo Glas thuộc Khu vực Eurasian chứ?”

“Đôi chút.”

“Những kẻ bị Dịch Clockwork biến đổi đều là những cỗ máy máu lạnh không tim mà thôi.”

“Đừng đánh đồng tất cả vậy chứ?”

“Nghe lời anh đi, đề phòng cậu ta.”

“Cái đồ đa nghi.”

“Cái đồ ngây thơ ngờ nghệch. Sau này cậu ta cho cậu ăn kẹo đồng thì anh đây không cứu đâu.”

Vladimir vẫn im lặng từ khi ra khỏi bếp đến giờ, ông ngồi sau quầy, tay mân mê cây thánh giá đeo trên cổ. Câu trả lời gần như quá rõ ràng, nhưng ông muốn xác nhận một lần nữa.

“Bác Vlad?”

“Gì vậy Tsuku?”

“Trong bác ũ rũ quá.”

“Bác không sao. Còn cháu? Có còn nhức đầu không?”

“Tsuku! Tí nữa thì anh quên mất! Anh đã bảo gì về việc dùng năng lực đi tống tiền người ta?”

“Bây giờ mới nhức đầu bác ạ.”

Morze trở lại phòng ăn thì thấy cảnh Nguyên đang mắng Tsukuyomi vì tội sử dụng năng lực làm chuyện xấu. Từ việc Tsukuyomi từng bị truy nã ở hai Khu vực vì tống tiền đến việc tìm một công việc làm ăn chân chính, Nguyên nói một tràng trường giang đại hải đầy hùng hồn, trong khi Tsukuyomi mặt vừa tuyệt vọng vừa chán ngấy, như thể đã phải nghe “trường ca” này không biết bao nhiêu lần rồi.

“Bao đồng với nóng tính không chỉ là tật duy nhất của nó đâu. Khoái diễn thuyết mới là cái tệ hại nhất.”

Nhân chán chường chống cằm nhìn Tsukuyomi rúm cả lại, nỗ lực cố gắng để không ngáp, đoạn đưa cho Morze khẩu súng của cậu.

“Cảm ơn.”

“Giờ thì cười tươi thế? Lúc nãy thì hằm hằm như muốn giết tôi ấy.”

“Anh bị dao kề cổ còn vui vẻ được không? Hay anh theo chủ nghĩa “cười vào mặt cái chết”?”

“Đâu ra cái chủ nghĩa kì cục vậy?”

“Vừa mới ra đời một giây trước.”

Lặng đi một khoảng, hai người nhìn Tsukuyomi sắp gục đến nơi trong khi Nguyên nhấp ngụm nước cho đỡ khô họng, chuẩn bị giảng tiếp.

“Anh vẫn sẽ đề phòng tôi?”

“Phải. Đừng mất công hỏi cách có được lòng tin của tôi, bởi tôi không trao nó cho ai bao giờ. Cậu thì càng không.”

“Vậy là tôi phải tự mình giành lấy rồi.”

Vladimir thấy Morze và Nhân trò chuyện, thở dài can ngăn Nguyên với Tsukuyomi cãi cọ. Ông gọi Morze lại gần, im lặng quan sát cậu. Morze đứng trước quầy, bình thản để ông nhìn ngắm, khuôn mặt không để lộ một chút khó chịu hay không thoải mái.

“Ta là chủ quán trọ này, Vladimir.”

“Rất vui được gặp ông. Đồ ăn rất ngon, thưa ông.”

“Sao bây giờ lại lễ phép thế bạn hiền?”

Từ góc phòng bên kia, Nhân buông lời xỏ xiên châm chọc.

“Không cần phải câu nệ quá như vậy. Morze, cậu nhớ ta không?”

Quả thực Morze có cảm thấy chút quen thuộc khi nhìn người đàn ông này. Dáng người, giọng nói, đặc biệt là tiếng quát gợi nhắc cậu về một khoảng thời gian trong quá khứ. Phải là trước khi hòn đảo bị bỏ quên, trước khi không còn thuyền buôn nào đến đảo. Là ở bến cảng?

“Vậy là không rồi. Có thể cho ta xem con mắt phải của cậu được không?”

“…”

Morze ngần ngừ. Cậu có thể chắc rằng cậu biết người này, nhưng không gì hơn ngoài những cảm giác mang máng mơ hồ. Bỗng một hình ảnh bật ra trong tâm trí, Morze thốt ra tên của vật đang đung đưa qua lại trong kí ức.

“Cây thánh giá…”

Vladimir hơi bất ngờ, nhưng vẫn lấy cây thập tự trong áo ra, để lên quầy. Bằng vẻ mặt của Morze, ông biết rằng Morze đã nhớ ra ông, một nhân ảnh thoáng qua trong cái đêm đầy hỗn loạn ấy.

“Ông ở trên chiếc thuyền buôn 10 năm trước. Người đã bảo tôi theo thuyền bỏ lại đảo.”

“Là ta.”

Người đàn ông này quả thật có những nét tương đồng với người trong trí nhớ. Mái tóc đen đã điểm hoa râm, nước da nâu nhạt hằn nếp nhăn, nhưng sắc xám như trời bão của đôi mắt vẫn còn tinh anh và cây thánh giá bạc rỉ đã nhập hai hình ảnh vào làm một. Morze tháo miếng băng mắt xuống. Không phải là sắc xanh trong của kim thạch, mà là màu vàng kim rực rỡ. Đúng là đôi mắt dị sắc Vladimir đã thấy 10 năm về trước. Nhưng khi ấy đôi mắt đó ngập lệ đau đớn, còn bây giờ, nó đã có được sự bình tĩnh và kiên nghị của tuổi trưởng thành.

“Ta vẫn hối hận vì bỏ cậu lại đảo ngày hôm đó. Nhưng quả thực thuỷ thủ đoàn đã quá sợ hãi, và ta cũng đã kinh hoảng. Ta đã để mặc nỗi sợ hãi điều khiển tâm trí, bỏ mặc cậu lại cái nơi khủng khiếp ấy. Sau này cũng vậy, không một ai trên tàu đồng ý quay lại nơi đó, ta cũng lấy công việc bận rộn làm cái cớ để trốn tránh.”

Vladimir chống khuỷu tay lên quầy, tựa trán vào hai bàn tay nắm chặt như đang cầu nguyện. Morze nắm lấy tay ông kéo xuống, nhìn vào cặp mắt xám mang niềm day dứt hối hận.

“Không phải lỗi của ông, là tự tôi chọn quay lại. Dù sao đó vẫn là nhà của tôi. Gia đình của tôi, hàng xóm láng giềng, dù họ có mang hình dáng nào đi nữa, họ vẫn là người tôi quen biết. Nếu ông bắt ép tôi đi, có thể ông sẽ thấy thanh thản, nhưng tôi thì không. Tôi sẽ hối hận vì đã bỏ mặc họ hoảng sợ và kinh hãi khi bị biến đổi.”

Vladimir nhìn cậu bé ngày trước đã trở thành một thanh niên, đang an ủi ông bằng những lời lẽ thành thực và nụ cười chân thành, thấu hiểu. Gánh nặng trong tim bao năm được cất xuống, ông nhẹ nhõm thở dài một hơi.

“Hà…10 năm, cậu đã trưởng thành rồi.”

“Vẫn chỉ là một đứa nhóc thôi, thưa ông.”

“Gọi ta là bác Vlad là được rồi, không cần câu nệ quá. Đêm nay cậu ngủ lại đây đi. Hay cậu đã có kế hoạch khác?”

Morze nhìn đồng hồ trên tường, lúc này cũng đã gần 10 giờ tối. Hàng quán bên ngoài đã đóng cửa hết, đường phố tối om không một bóng người. Cậu đang tính đến chuyện kiếm cái mái nhà nào kín gió chút ngủ tạm thì Nguyên nhảy tới bá vai cậu.

“Bác Vlad, vẫn còn một phòng để trống đúng không? Thời gian ở đây, Morze trọ lại quán đi.”

“Tôi cứ nghĩ đêm nay phải ra đường ngủ rồi. Làm phiền bác vậy.”

“Dạo Quỷ Môn Quan, kết bằng hữu mới, đi đêm đụng ma, gặp lại cố nhân. Hôm nay nhiều việc ghê.”

Nhân gác chân chéo chân lên bàn, chưa kịp yên vị đã bị Vladimir bắt bỏ chân xuống. Tsukuyomi lách ra chỗ Nhân, giật áo anh thì thầm hỏi chuyện gì xảy ra 10 năm trước. Morze nghe thấy, cậu quay lại nhìn cô bé, nhưng chưa kịp nói gì thì Tsukuyomi đã dùng tay bịt mắt, từ chối nhìn cậu. Nhân vỗ cái “bộp” vào mông Tsukuyomi, làm cô bé nhảy dựng lên, mặt đỏ bừng quay lại đánh Nhân, còn tặng anh một dấu tay hằn trên má.

“Nếu em muốn nghe chuyện thì anh sẽ kể, nhưng cảnh báo trước đó là một câu truyện rất nhàm chán đấy.”

“Morze, nếu không muốn thì không cần nói ra đâu.”

Nguyên vẫn ôm cổ Morze, cậu vốn cũng muốn biết lắm, nhưng có những chuyện có thể dễ dàng chia sẻ, có chuyện lại chỉ có thể “một mình mình biết, chỉ mình mình hay”. Quá khứ của Morze, dù chỉ qua những chi tiết vụn vặt thôi cũng đủ để thấy không dễ dàng gì.

“Nguyên lại lo quá rồi, không cần thiết phải bận tâm đâu. Vả lại, cũng đã 10 năm rồi, cái gì xảy ra cũng đã xong, bây giờ nhắc lại cũng chỉ là kể một chuyện, một sự kiện trong quá khứ thôi.”

Morze gỡ cánh tay vòng qua vai của Nguyên, quay lại bóp mũi cậu. Nguyên nhìn Morze, đôi mắt dị sắc mang nét cười dịu dàng làm cho khoé môi hơi cong lên kia trở thành một nụ cười mỉm nhẹ nhàng, thoải mái.

“Morze đang cố tỏ ra mạnh mẽ hay đang cố giả bộ mình không sao?”, Nguyên hỏi bằng giọng mũi nghèn nghẹt.

“Hai hành động đó là một, và tôi đâu giấu giếm điều gì.”

Ánh đèn khuya rọi qua cửa kính, chiếu trên con phố vắng tanh những khoảnh sáng tối đan xen. Cơn mưa đêm bất chợt đổ xuống, ánh đèn kia vẫn loang loáng sắc vàng trên mặt đường ướt mưa. Gió thổi mây bay, mặt trăng ló dạng trên trời cao, tìm kiếm ánh đèn đêm hôm phản chiếu trên những vũng nước đọng trên đường, nhưng ánh đèn ấy đã tắt từ lúc nào. Đêm yên tĩnh nhanh chóng bị phá vỡ khi tiếng đạp tường ruỳnh ruỳnh cùng câu nạt tức tối bảo đi ngủ đánh thức tất cả dậy, nhưng rồi cái mơ màng của buổi đêm đã xoa dịu và mời gọi những con cú đêm trở lại giấc ngủ. Một ngày đầy biến động kết thúc, nhưng chẳng mấy chốc nữa vầng dương sẽ lấp ló nơi chân trời, như ánh đèn hiệu mở màn cho những câu chuyện mới bắt đầu.

0

Related Posts

Leave a Reply

Site Menu