#129 Ký Ức Thủy Tinh

0

Nhóm tác giả: NIG
Giới thiệu: Dòng đời là thứ nghiệt ngã. Giống như gió, đã thổi là sẽ tan, không bao giờ mãi mãi. Cái mất trong đời người luôn là cảm xúc, mà trớ trêu, lại là những thứ cảm xúc được trân quý nhất. Những gì còn lại sau những quãng đời riêng lẻ, là nhân cách và sự trưởng thành, hai khái niệm mà khi người ta càng giỏi trong việc định nghĩa chúng, người ta càng trở nên nghiêm túc.
Không biết trưởng thành có hẳn “chín chắn” không, nhưng chắc chắn “từng trải”. Từng trải, cũng là lúc người ta phải bội bạc với phần nào đó của quá khứ, và như đã nói sẽ không bao giờ trở lại. Lửa cháy hết còn lại tro than, cũng như những cháy bỏng tuổi trẻ rốt cục rồi cũng sẽ im lìm khi ta lớn lên.
Có một câu chuyện được kể bởi một người “từng trải”, một nhà văn trẻ hơn so với mọi nhà văn nhưng lại già hơn chính anh ta về số tuổi tâm hồn.
Anh ta, cũng giống như mọi người, biết rằng kéo những kỷ niệm về trong hiện tại là vô vọng. Nhưng trong sâu thẳm , cái ý niệm quay ngược chiều định luật nghiệt ngã kia vẫn âm ỉ. Anh muốn tìm lại những giấc mơ đã đánh mất.
Liệu anh có thể? Những cảm xúc của mười mấy năm trước liệu còn nguyên vẹn? Hay chỉ là…

 
Chương 1: Ăn đêm.
Một chiều cuối hạ, khi mọi oi ả và nóng bức đã tạm lui vào nơi xa xôi mơ hồ, để không gian được lấp đầy bằng những làn gió mơn man, Hòa leo lên chiếc CUB cũ kỹ đi lòng vòng thành phố mong kiếm tìm đâu đó cảm hứng sáng tác . Gió mát, còn vương chút nóng và khô, nhưng so với tầm trung kỳ của mùa hạ thì thật dễ chịu biết mấy. Bầu trời ngăn ngắt xanh, mây chỉ còn là những dải mờ lác đác, phớt trên nền trời như những nét cọ phóng túng của một bức phác họa.
Hòa cho xe chạy dọc con đường vắng quen thuộc, ngắm những chiếc lá bàng khô cháy rực trong nắng, chao nhẹ trong không trung, rồi trải xuống mặt đường thành một thảm lá rất rộng. Tiếng bánh xe lăn qua thảm lá, nghe giòn tan như tiếng ai đó nhai những viên đá lạnh trong một cốc nhân trần đã cạn, êm ái, và cũng có gì đó tiếc nuối nữa.
Đi hết con đường, Hòa nhập vào dòng người đông đúc của con phố cắt ngang, đổ theo hướng ra bờ hồ. Sau vài phút ùn tắc đến mức ướt sũng cả chiếc áo sơ mi trắng, cuối cùng cũng tới được bên hồ. Dòng người ở đây thưa hơn, nhưng đông đúc ở những quán xá ven hồ. Có lẽ người ta ra đây cũng chỉ để đến ngồi ở những nơi như vậy, sau một ngày làm việc, thời gian bạn bè gặp nhau bên ly cà phê hiển nhiên là quý giá.
Hòa tìm một chỗ để gửi xe lại, rồi thư thái tản bộ quanh bờ hồ. Những người đi bộ liếc nhìn Hòa khi đi ngang qua, có vẻ phong thái đĩnh đạc và bộ đồ văn phòng với quần âu đen và áo sơ mi dài tay của cậu đối với việc đi bộ trông rất đối lập, nhưng chỉ ở mức khác biệt chút ít nên cũng chẳng ai quá bận tâm. Bây giờ, Hòa cứ thế thong thả bước đi, thật chậm, chậm hơn rất nhiều lần với lúc đi dạo bộ cùng đám bạn hoặc đồng nghiệp. Bây giờ, là lúc cậu tìm một câu chuyện, một câu chuyện có thể viết ra trên trang giấy mãi không muốn dứt. Một câu chuyện bất tận. Mấy tháng gần đây, việc viết lách với Hòa là một điều gì đó áp đặt, cái đam mê cống hiến và nhiệt tình sáng tác của cậu như đã cùng với nắng hạ phai đi trong chớm gió heo may. Vì công việc, cậu vẫn sáng tác, nhưng những gì cậu viết cũng chỉ như động tác Ctrl C và Ctrl V mọi thứ của chính mình, tất cả từ văn phong đến cấu tứ rời rạc chắp vá không có một chút sáng tạo nào, điều mà đối với một nhà văn là điều đáng hổ thẹn nhất. Độc giả vẫn đón nhận cậu, nhà xuất bản vẫn phát hành những tuyển tập truyện ngắn và tiểu thuyết của cậu (dạo gần đây toàn là truyện ngắn và tản văn), tiền nhuận bút vẫn đều đặn nhận, nhưng tâm cậu không yên, cái lối viết như hiện tại sẽ khiến cậu dần đánh mất chính mình. Hòa sợ những cỗ máy vì chúng lạnh lẽo và vô hồn, nhưng có khi nào cậu cũng đang dần trở thành như thế, một cỗ máy tự lặp lại bản ngã cho đến khi kiệt sức?
Mông lung suy nghĩ, đôi chân cứ thế chậm rãi đưa Hòa đi một cách vô thức. Mọi thứ xung quanh cậu đang chuyển động, nhưng dường như tất cả đều ngược hướng Hòa đi, và nhanh hơn Hòa nghĩ. Khoảnh khắc này bình yên đến cô độc. Một bà mẹ dắt đứa con lẫm chẫm, tay bồng một đứa nhỏ hơn, miệng khe khẽ hát. Một chị đồng nát đang rao hàng bỗng ngừng lại trong một lúc, ra là để ăn vội chiếc bánh mỳ mới mua còn nóng hổi. Hai người một nam một nữ, chắc có lẽ là một đôi, đang giận dỗi nhau gì đó, khi ngang qua chiếc xe bán chong chóng, chàng trai mua một cây chong chóng nhỏ màu thiên thanh tặng cô gái, đôi mắt ướt ấy bỗng sáng lên, khóe môi khẽ nở một nụ cười dịu dàng. Người bán chong chóng, khi vừa bán được cây chong chóng ( không biết là cây thứ mấy trong ngày, cũng có thể mới chỉ là cây đầu tiên), những đồng tiền lẻ được ông vuốt thẳng mép , cất nhẹ nhàng vào trong chiếc hộp thiếc treo bên hông, cử chỉ tuyệt đối trân trọng… Nhiều, rất nhiều những con người ngược chiều với Hòa. Họ mang những nỗi vất vả, khó khăn riêng, mà trông họ đều mãn nguyện. Vì họ yêu điều họ đang làm, họ hạnh phúc vì được sống với những gì mình đang có. Người mẹ hy sinh cả một đời tần tảo cho con, mà vẫn yêu đời vô tư hát; người bán chong chóng vui vì được sống mỗi ngày để bán những cây chong chóng yêu thương, mang tình yêu đến cho mọi người. Đó là lẽ sống của họ. Vậy lẽ sống của Hòa là gì? Có ít hơn, hay nhiều hơn những xúc cảm như những người đó? Câu hỏi văng vẳng loang ra trong trí óc Hòa, như một viên đá nhỏ rơi xuống mặt nước làm thành những vòng tròn đồng tâm lan ra mãi, không có phản hồi lại.

Đúng , Hòa hiểu, cậu đã mất đi cảm giác viết văn. Dù là nhất thời hay vĩnh viễn, cũng vô cùng khó chịu. Tưởng tượng khi bạn mất đi một cái gì đấy đã trở thành thói quen, sự hụt hẫng và trống vắng sẽ chẳng thể đo đếm được. Có một câu chuyện về một người ăn mày: Ngày xưa có người ăn mày, khi đói nghèo cơ hàn lang thang trên đường lâu lâu mới được vài người có lòng hảo tâm cho vài đồng bạc lẻ để mua cái bánh, miếng nước,… Rồi đến một ngày, sau bao năm vô vọng bên vệ đường, người đó đang dần chết. Trong hơi thở yếu ớt, người ấy cầu nguyện, ước thoát khỏi cuộc sống đau khổ này để sống cuộc đời sung túc ấm no hơn. Một vị thiên thần xuất hiện, và biến điều ước ấy thành hiện thực, biến người ăn mày thành một người giàu có hơn cả vua chúa, tất cả mọi thiếu thốn lúc trước bây giờ đều thừa thãi cả. Người ấy mừng, cảm ơn thiên thần và bắt đầu sống cuộc sống mới. Nhưng sau ngày đầu tiên, người đó lại cầu xin để được trở về là một người ăn mày. Đơn giản chỉ vì, cuộc sống người ấy đang sống không phải cuộc sống thực, dù nó sung túc ấm no nhưng nó không quen thuộc, và quan trọng hơn, nó không do tay của người ấy làm ra, nên anh ta hổ thẹn, và muốn quay lại như lúc trước. Cái đói nghèo là một nỗi khổ, nhưng sống một cuộc sống không phải của mình, còn khổ gấp bội, còn hơn cả bị gông kìm xiềng xích chôn thân sau song sắt lạnh lẽo. Hòa cũng như thế. Văn chương vốn là sở thích của cậu, viết văn vốn là thói quen của cậu. Mà giờ đây việc cậu làm cơ bản chỉ là sao chép và xào nấu lại đôi chút tác phẩm của chính mình. Hòa đang sống dưới cái bóng của mình, đạo văn của chính mình. Sẽ chẳng có ai truy tố người chép văn của chính mình, nhưng lương tâm và lý trí của một chân văn sĩ đang thôi thúc cậu phải tìm lại, tìm lại cái thói quen và sở thích mà cậu đã bỏ quên đâu đó.
Thở hắt ra một hơi dài, kèm sau đó là hít vào một hơi thật sâu, Hòa thấy một thoáng khoan khoái hơn. “Sự bình yên này”-Hòa nghĩ- “ Dù có kéo dài bao lâu, ta cũng nên tận hưởng, một cách trọn vẹn nhất”. Bởi cậu thấy, bản thân mình đã tự khiến mình áp lực. Mục đích cậu ra hồ là để tìm nguồn sáng tác, mà giờ lại cứ băn khoăn mãi về những chuyện nặng nề. Chí ít cũng nên để cho bản thân được thoải mái, như cậu đã từng. Khi tâm hồn không bị níu kéo, ý tưởng sẽ bất tận và những câu chuyện mới sẽ ra đời.

Nhắm mắt trong vài giây, để mọi lo nghĩ lắng xuống thật sâu, rồi cậu từ từ mở mắt. Khung cảnh xung quanh có gì đó khác… không phải là về hình thái, mà về những chuyển động. Mọi thứ như chậm hơn, cùng với đó là cảm giác lạc lõng đã tan biến. Người đi bộ, người ngồi đọc sách báo bên ghế đá, người ngồi bên thềm đá gần mép nước và nhìn ra xa đâu đó trên mặt hồ phẳng lặng,… Không có ai chạy bộ nữa. Đưa tay lên nhìn đồng hồ, Hòa nhận ra đã 2 tiếng trôi qua rồi, và bầu trời đã ngả bóng sẫm lại. Chân trời xanh biếc đã chuyển thành đỏ nung, loang ra, nhuộm thắm những vầng mây trắng. Mặt trời vàng rực sáng như long châu, nằm ngay trên chân trời và được bao quanh bởi sắc đỏ, tựa như vết thương đang trào máu của một con thú khổng lồ đến vô hình. Càng lên cao, sắc đỏ càng thẫm lại, chuyển dần sang những gam màu lạnh hơn, đến giữa thiên đỉnh là một màn đêm tăm tối. Khung trời vào lúc này thấp hơn, nhưng lại rộng hơn, bóng tối bao quanh khắp vòm không như một sợi đai đang dần siết lại, để chốc lát nữa, sẽ buộc chặt tất cả với sắc màu của nó.
Hoàng hôn thật đẹp. Cũng như bình minh, chúng là những khoảnh khắc giao thoa. Giữa sáng và tối, giữa đêm đen và ánh sáng ban ngày. Nhưng hoàng hôn, khác với vẻ nhẹ nhàng yếu đuối của bình minh, nó nồng nàn sâu lắng hơn, và cũng độc đoán vô chừng. Nó là ngưỡng cửa của đêm tối, và nó sẽ mở ra dù cho con người ta có muốn hay không. Người ta chẳng mấy ai sợ ánh sáng, nhưng chắc chắn, rất nhiều người sợ bóng tối, đa phần vì sự uy nghiêm đến nghẹt thở của màn đêm như ẩn chứa những thế lực siêu hình chi phối thế giới và dĩ nhiên, chi phối con người. Nhưng Hòa không sợ bóng tối. Có lẽ vì là nhà văn nên luôn phải đối diện với tất cả để viết ? Và đối với hoàng hôn, cậu càng không sợ, hơn thế, đây là thời điểm mà cậu muốn sống nhất trong ngày. Bất cứ ngày nào, chỉ cần hoàng hôn, là đủ.
Đắm đuối trước hoàng hôn, Hòa lại vô thức bước hướng bước chân mình về đó. Tựa mình lên vòng lan can quanh hồ, cậu lặng yên . Mắt cậu dõi nhìn hoàng hôn, rồi phóng ra xa đến vô định. Xa xăm kia có điều gì đang đợi? Một làn gió đâu đó thổi tới, cuốn theo một nắm lá khô bay ra giữa hồ, làm xao động mặt nước đang tĩnh lặng. Mái tóc của Hòa bị gió thổi tung, xù lên, dây chun buộc đuôi tóc bung ra rơi nhẹ xuống mặt hồ. Vào khoảnh khắc ấy, ở bên trong mình, Hòa mơ hồ cảm thấy, một làn gió mới.

“Này, hôm nay cậu rảnh không?”- Một giọng nói sốt sắng vang lên trong ống nghe.
“Đến tầm tối nay thì rảnh, cả ngày tớ bận việc ở công ty, có một vài bản thảo cần hoàn thành sớm cho kịp deadline” – Hòa trả lời, giọng đều đều.
“Vậy tối nay nhé, tớ đợi trước ở chỗ cũ đó, lúc nào đến thì nháy máy, tớ ra liền” – Giọng nói kia hồ hởi và chủ động, nói xong câu đó dập máy ngay.
“Ah! Này!” – Hòa gọi to, những đã trễ một nhịp.
Aizzzz. Tiếng thở dài vang lên trong văn phòng vắng người. Hòa tạm dừng công việc, ngả người tựa vào lưng chiếc ghế xoay. Gối đầu lên hai bàn tay, cậu lơ đãng nhìn lên trần nhà. Bóng đèn neon với ánh sáng mát dịu lại đâm ra tẻ nhạt. Tiếng quạt trần quay ù ù là âm thanh duy nhất kéo dài một cách liền mạch và chỉ ngừng khi tòa soạn kết thúc ngày làm việc. Sự chán nản bao chùm, lại bị giữ lại trong bốn bức tường, tạo ấn tượng về một môi trường diễn ra toàn những sự kiện máy móc vô cảm.
Tòa soạn sở dĩ đã là một nơi chán ngắt trong định nghĩa của các nhà văn, biên tập và nhà báo ở đây. Kể cả lúc đông người, nơi này cũng chẳng vui lên là mấy. Làm báo, viết văn là những công việc nghiêm túc, nếu không nói là cứng nhắc, ít nhất thì mệnh đề đó là đúng trong môi trường này. Việc của những “người sáng tạo” ở đây là viết, và viết, ngày nào cũng tới ngồi bàn giấy và thực hiện lại đúng chu trình của ngày hôm trước. Vô vị. Cả một tuần, ngày nghỉ duy nhất là ngày cuối tuần, còn ngày làm việc thông thường là từ 7 giờ sáng đến 8 giờ 30 phút tối, không nghỉ giữa chừng. Không bao giờ có chương trình thực tế hay nghỉ mát, như thể giám đốc tòa soạn chỉ cần giữ được vị thế của mình, không cần biết nhân viên có hài lòng hay không. Đề tài để viết toàn được lấy trên mạng hoặc qua những nguồn tin truyền miệng. Nhà báo đã như vậy, nhà văn còn khổ hơn. Chưa đúc kết đủ kinh nghiệm sống, mà bị giam ngày qua ngày trong bốn bức tường và yêu cầu phải viết những tác phẩm theo kịp thời đại. Yêu cầu quá vô lý và nhiều người đã vì thế mà nghỉ việc. Nhưng có những người ở lại, không phải vì tình cảm gì cho cam, có chăng là vì lương bổng ở đây-ưu điểm duy nhất- cao đến khó tin so với mức lương cơ sở của những người sống bằng nghề viết thông thường. Hòa vốn không thích cách làm việc này, nhưng rồi lâu dần quen đi, cậu biến thành một trong số họ, chỉ biết câm lặng viết và viết. Việc cậu ở lại, nếu nói vì tiền thì có đúng mà cũng có sai. Cậu còn trẻ, việc kiếm tiền là một nhu cầu, cậu cần tiền cho những mục tiêu xa hơn. Nhưng cậu không phải kiểu vì tiền mà bất chấp tất cả, chỉ là Hòa thấy, việc này tuy trái với tự tôn của một nhà văn chân chính, nhưng nó không gây tổn hại gì lớn, nếu có thì cũng chỉ đối với riêng người viết về giá trị tinh thần, còn mang thông tin tới cho người đọc thì vẫn hoàn toàn trơn tru. Hơn nữa, Hòa chỉ muốn an phận sống. Tuổi trẻ của cậu đã chết ở đâu đó trong quá khứ rồi.
Bàn làm việc của Hòa la liệt bản thảo, còn sọt rác dưới gầm bàn thì đầy ngập những viên giấy nhàu nát, kết quả của những bản nháp và những ý tưởng thất bại. Trên bàn là chiếc laptop đang để mở ở phần Word với những dòng truyện đang viết dở, con trỏ nháy mãi ở phần trắng trên đầu trang, chắc tác giả đang phân vân về việc đặt tiêu đề. Bên cạnh chiếc laptop, là một cuốn sổ ghi chú viết đầy những từ khóa, câu châm ngôn, và cả những hình vẽ nhỏ ngộ nghĩnh có lẽ là thú vui trong lúc làm việc của Hòa … Thở dài một cái nữa, Hòa ngồi thẳng dậy trên ghế. Ngày nào cũng tăng ca hơn hẳn một tiếng mà lương vẫn vậy, chắc công việc thói quen đã khiến Hòa khó mà dứt ra được. Chỗ làm việc đã thành như nhà của cậu, giám đốc cũng chẳng bận tâm nếu văn phòng chỉ còn cậu ở lại vào cuối giờ làm hay sáng sớm hôm sau thấy mình cậu đang ngủ bên đống tài liệu khi trong phòng chưa có ai… Hôm nay Hòa làm hơi quá sức, hạn nộp bài là một tuần nữa nhưng cậu vẫn chưa dẫn được một mạch truyện nào ra hồn, nên cứ mê mải vắt óc nghĩ đến quên cả thời gian.
“Tạm nghỉ tay thôi”- Hòa khẽ nói với mình. Và cậu tắt máy đi, thu bản thảo gọn lại. Sau khi tắt đèn và rời khỏi phòng, Hòa xuống lầu ra khỏi cơ quan. Gọi chiếc taxi đang đỗ bên kia đường, Hòa chỉ hướng mình muốn đến. Tài xế hình như là có quen biết cậu, cười đáp lại thân thiện.
“Lại đến chỗ cũ hả anh bạn?”- giọng nói hào sảng vang lên cùng với nụ cười để lộ hàm răng hơi xỉn màu.
“Vâng, phiền anh”- Hòa đáp lại
“Khách khí quá đấy, lên xe đi, hơn năm quen nhau rồi mà chú câu nệ thế làm gì!” – người xế bước xuống mở cửa bên ghế trước cho Hòa, rồi cười to nói. Hòa mỉm cười lại, khẽ gật đầu cảm ơn rồi bước lên xe.
Con xe taxi bốn chỗ lướt đi trên phố đêm vắng tanh được soi sáng bởi những cột đèn đường đặt cách nhau những khoảng đều đặn như kéo dài vô tận. Người lái xe không cất tiếng pha trò nữa, chỉ còn nghe thấy tiếng động cơ và tiếng lạo xạo của bánh xe trên mặt đường. Radio trên xe đang phát một bản nhạc dương cầm không lời, toát lên âm hưởng cũ kỹ của những năm đầu của thế kỷ 19. Hòa lắng tai nghe, cậu biết bản nhạc này, bản” Introduction and rondo capriccioso” của Saint Saëns, một nhạc sĩ người Pháp trong thời kỳ của dòng nhạc lãng mạn kinh điển . Cậu không hiểu lắm về dương cầm, nhưng bản nhạc này thì cậu biết rõ, vì nó gắn với những ký ức rất đẹp. Âm thanh du dương, lúc trôi êm như dòng nước, lúc cuộn lên như một cơn gió, lúc lại lạnh lẽo như băng tuyết. Bản nhạc như hợp với tất cả mọi tâm trạng của con người, bất cứ lúc nào nghe cũng thấy vô cùng dễ chịu. Cậu không ngờ bác tài này lại có gu âm nhạc tinh tế đến thế.
“Bài hát này …” – Hòa bất giác thì thầm.
“Cậu biết nó sao?”- bác tài hỏi, mắt vẫn nhìn về con đường phía trước, nhưng giọng điệu thoáng chút ngạc nhiên.
“Có một chút, em cũng biết ít nhiều về âm nhạc”- Hòa đáp, giọng phớt hờ như hơi gió.
“Cậu cũng chơi nhạc sao?”
“Em cũng biết chơi guitar đôi chút”
Người lái xe cười, với tay lấy bao thuốc méo mó trong hộc phía dưới đài phát. Châm một điếu, rít một hơi thật sâu, anh búng điếu thuốc còn cháy đóm ra ngoài cửa sổ, rồi thở ra một làn khói dày. Ánh mắt anh trầm tư, như nhớ lại điều gì đó. Liếc nhìn Hòa, anh chép miệng, rồi lại nhìn về màn mưa trước mặt.
Bản nhạc cứ thế vang trong mưa. Đêm nay, là một đêm khác biệt thì phải.
Xe đỗ lại trước một quán ăn đêm ở góc phố ven sông. Hòa xuống xe, trả tiền rồi chào tạm biệt người lái xe. Trong một giây, cậu nghĩ, nếu người ta thôi đi cái việc chào nhau, liệu mọi thứ có gì đổi khác, liệu có phải một điều gì to tát đến mức bị lên án, hay cũng có thể chấp nhận được. Có cần thiết phải chào nhau không, khi cái cần không phải là lời chào mà là tình hữu ái, điều mà trong lúc chuyện trò người ta ai cũng đã biết về đối phương, và rõ ràng, lời chào chỉ là một phép lịch sự. Hay do bản chất con người, vốn luôn xem trọng những giá trị bên ngoài hơn nội tại nên cứ mãi dối lừa nhau vì những điều không thực?
Hòa bước vào trong quán. Đây là một quán phở bình dân nhưng được bài trí khá tươm tất. Biển hiệu quán là loại biển hình hộp nằm dọc, có bóng đèn huỳnh quang bên trong phát qua lớp bọc bằng bạt màu cam tạo nên ánh sáng cam ấm áp. Chữ trên biển đề: “Phở Bến Đò”, dòng chữ đen nổi bật với phông chữ như nét bút lông viết trên giấy đỏ, có nét gì rất nghệ sĩ. Cái tên quán được đặt đơn giản là do quán nằm ở ven sông, gần một bến đò, chứ chẳng có ý nghĩa gì quá sâu xa. Hòa nhớ có lần ngồi đây nghe bà chủ nói về lý do của việc đặt cái tên này: “ Đặt cái tên khó lắm chứ bộ, các chú thử có con xem có nghĩ nổi loáng cái một cái tên cho nó không. Tôi làm cái quán này, ban đầu cũng có nghĩ chi đến, bởi khó nghĩ quá mà, dân quán xá ít học chúng tôi đâu có nhiều chữ mà nghĩ tới. Nhưng kể ra mà có cái tên thì vẫn hơn, thế nên rốt cục tôi đặt cha nó là thế này. Cần phải bày đặt tên hay tên đẹp làm chi, với tôi thì chẳng có gì đẹp bằng cứ bán mà có người mua. Với lại bề ngoài mà quan trọng đến thế, thì tôi đã đi thẩm mỹ viện để đẹp lên rồi, đâu cần nai lưng chốn này nữa.”. Phía trong quán, không gian hơi tối với chỉ bốn chiếc đèn tuýp trên bốn góc phòng, một đèn trần ngay giữa phòng và bốn đèn lồng treo tường (trừ đèn lồng là đèn màu thì còn lại đều là đèn sáng trắng, nhưng do nguồn điện yếu nên ánh sáng lúc nào cũng leo lét như chực tắt). Trên mỗi bức tường có một cửa sổ lớn, đủ lớn để ai ngồi đâu cũng nhìn thấy cảnh bến sông về đêm, và nghe những âm thanh theo gió sông đưa ngang qua. Những chiếc bàn tròn bằng gỗ được xếp đặt rất khéo, đan xen nhau nhưng không hề gây cảm giác lộn xộn. Sàn nhà lát loại đá hình vuông bản lớn màu xanh ngọc bóng loáng, đủ để thấy luôn được lau chùi cẩn thận. Bếp nằm sâu trong quán, khác với những quán bình dân khác nấu ăn ngay ở cửa vào, thay vào đó ở cửa vào là quầy thu ngân. Một chậu hoa dạ lan được đặt bên trong quầy, đang nở, nói theo cách nào đó thì đây chính là một trong những lý do lôi kéo được nhiều khách tới với quán. Ngồi ăn khuya và thưởng hương của loài hoa mỹ miều như giai nhân, còn gì thi vị hơn nữa?
Ở góc quán, nơi có ban công nhìn ra mặt nước, cũng là vị trí có góc nhìn cảnh sông đêm đẹp nhất, có một người đang ngồi đó chờ Hòa. Một cậu trai chạc tuổi Hòa, tóc húi cua, ăn mặc đơn giản với quần thun thể thao tối màu và áo khoác cùng loại mặc ngoài áo phông trắng. Cậu đang lơ đãng nhìn ra sông, ánh mắt khó dò, khuỷu tay chống lên mặt bàn, hai bàn tay đan vào nhau trước mặt.

“Này, đợi lâu chưa?”
Cậu trai hơi giật mình, ngẩng đầu lên ngó quanh vẻ ngơ ngác. Bắt gặp Hòa đang đứng bên bàn, vẻ ngơ ngác chuyển nhanh chóng thành vui mừng.
“Ah! Cậu đây rồi. Ngồi xuống đi, tớ cũng vừa tới chốc lát thôi!”
“Nói khéo đấy, tớ xin lỗi, hôm nay hơi bận. Để cậu phải đợi rồi”- Hòa nói trong lúc ngồi xuống.
Húi Cua-từ bây giờ xin gọi cậu như thế, bởi không nhất thiết phải biết tên cậu để có thể kể hết câu chuyện này- trùng hai chân mày, ánh mắt ngán ngẩm nhìn Hòa rồi thở dài.
“Cậu là đàn em tớ phỏng? Giữa hai thằng bạn thân với nhau, mà cậu vẫn giữ cái kiểu lịch sự một cục như thế, hỏi bao giờ mới có bạn gái đây?”
“…”
“Thôi qua qua, đợi cậu nói câu khách khí nào nữa chắc tớ đi về luôn. Ăn gì gọi đi.”
“Ừ”
Hòa và Húi Cua, hai khách hàng quen của quán từ cả năm nay, cứ mỗi tối thứ 7 lại tới. Chỉ cần gọi một tiếng là bà chủ biết ngay ăn thế nào . Hòa bò tái, Húi Cua gà xé. Cả năm rồi, vẫn là gà xé và bò tái, bò tái rồi gà xé, chẳng thay đổi gì. Cả hai, chính xác là kiểu người trung thành với cái cũ kinh điển.
Trước khi tiếp tục câu chuyện, hãy nói qua về Húi Cua, để chuyện được mạch lạc để chúng ta hiểu thêm về cậu. Húi Cua là một thầy giáo dạy thể dục ở một trường cấp 3 dân lập, một vị thế quèn với đồng lương eo hẹp. Hai mươi mấy tuổi đầu chưa một mảnh tình vắt vai, lại phải bươn chải nuôi mẹ già đang nằm viện vì bại liệt, nhưng cậu luôn luôn lạc quan. Cậu chẳng bao giờ buồn vì công việc, cũng như cuộc sống đời thường, mà luôn tìm thấy niềm vui trong những điều rất nhỏ. Năng động và nhiệt tình là hai tính từ người ngoài hay dùng để nói về cậu. Bằng nguồn năng lượng như bất tận, Húi Cua lúc nào cũng biết cách khiến người khác nở nụ cười, và truyền cho họ động lực để vượt qua mọi khó khăn. Học sinh của cậu luôn tâm niệm: “Chỉ cần là thầy, thử thách nào cũng trở thành trò chơi”. Ngoài mặt cởi mở với xã hội, còn bên trong cậu lại rất đa cảm. Cậu thích nghe nhạc, những bài nhạc không lời êm đềm luôn là liều thuốc nhanh nhất giải tỏa những căng thẳng sau một ngày hoặc tiếp tinh thần để bắt đầu ngày mới. Cậu thích lang thang, cũng chẳng ngoa khi gọi cậu là con ma xó của thành phố này. Bằng việc lang thang kiếm những góc nhìn mới, những quán ăn mới, cậu thuộc nằm lòng tất cả mọi con hẻm, ngóc ngách trong thành phố, đến mức có thể vẽ lại cả bản đồ không sai một ly mà không cần xem mẫu. Và cậu thích ăn đêm, tất nhiên rồi. Vì cậu thích ăn, và thích đêm. Những quán ăn đêm thường tạm bợ, đìu hiu, có vài quán bia quán lẩu còn có thể coi là nhiều người, nhưng không đông đến mức quá tải. Cậu chọn ăn đêm, cũng vì đã quen với cô đơn, nên những quán vắng thường khiến cậu thư thái hơn. Rồi cậu biết đến “Phở Bến Đò” trong một lần đi vơ vẩn như thường lệ. Có một thiện cảm dấy lên trong suy nghĩ đầu tiên của cậu, cậu thấy nơi đây rất hợp với mình. Không gian thoáng đãng và phở tuyệt ngon, ngon theo kiểu bình dị gần gũi, như hương vị bát phở mẹ nấu ngày bé. Ở đó cậu đã gặp Hòa, một con người trái ngược với cậu, lặng lẽ hơn nhưng dường như có cái gì đó cháy bỏng lắm ở người này mà cậu không giải thích nổi cứ lôi cuốn cậu mãi. Hai cậu đã ăn cùng nhau, và trò chuyện, gần như đã thành bạn thân chỉ sau một bữa ăn đêm. Từ đó, cứ tối thứ bảy hàng tuần, hai người lại hẹn nhau ở đấy. Cậu phát hiện Hòa có nhiều điểm chung với mình, và thấy thật vui khi được tâm sự cùng Hòa những điều mà trừ Hòa chẳng bao giờ cậu nói với ai vì chưa ai cho cậu đủ tin tưởng như một người bạn thực sự. Đó giờ đã hơn một năm, và hôm nay lại là một tối thứ bảy như vậy nữa.
Phở được bưng ra, hương thơm theo làn khói mờ lẩn vào cánh mũi. Hai người cảm ơn phục vụ bàn, rồi từ tốn thưởng thức. Nước dùng hơi mặn hơn mọi bữa, nhưng phở không vì thế mà đánh mất vị ngon đặc trưng của nó. Hai người vừa ăn vừa trò chuyện, vẫn là những câu chuyện xã giao thông thường, từ công việc cho đến các dự định. Hầu như Húi Cua là người kể, còn Hòa là người yên lặng nghe chỉ đôi lúc thêm vào những từ “ừ” hay “à” để cho bạn biết rằng mình vẫn đang lắng nghe. Húi Cua kể nhiều thứ, mọi chuyện và mọi việc cậu trải qua trong cả tuần rồi, những niềm vui, những vất vả,… bằng cái cung cách cởi mở của cậu, trong khi Hòa thì chẳng bao giờ hé miệng để chủ động kể, trừ phi Húi Cua hỏi Hòa mới trả lời, và chỉ trả lời đúng câu hỏi rồi thôi. Hòa kém chia sẻ, nhưng giỏi lắng nghe, và với một mối quan hệ theo kiểu bạn nhậu cuối tuần này, có vẻ thế là ổn. Nhưng hình như Húi Cua không muốn chỉ đơn thuần được Hòa lắng nghe, mà còn muốn được nghe Hòa kể những gì cậu cảm nhận trong cuộc sống của cậu. Đã nhiều lần, Húi Cua muốn gợi để Hòa nói thật nhiều, mà bằng cách nào cũng không khiến Hòa mở lời quá một câu được. Dừng một lúc để ăn, quãng trống yên tĩnh giữa cuộc trò chuyện tự nhiên làm bầu không khí có cái gì đó gượng gạo. Hai người ăn đến lưng tô, Húi Cua bỗng ngẩng lên và hỏi.
“Cậu thấy sao?”
“Hả?”- Bị hỏi đột ngột, Hòa lộ rõ vẻ mặt ngạc nhiên đến mức hài hước.
Trông Hòa như thế, Húi Cua bụm miệng nén một tiếng cười, điệu bộ khéo léo khiến cậu bạn không hay biết. Ho khẽ vào nắm tay để kìm giọng lại, cậu e hèm một tiếng. Khi đã bình tĩnh, Húi Cua trở nên nghiêm túc hơn trước: Cậu gác đũa ngang tô phở, đan hai tay lại trên mặt bàn. Nhìn thẳng vào Hòa, cậu hỏi:
_Tớ hỏi cậu thấy sao? Cuộc sống này, công việc hiện tại, những diễn biến xung quanh cậu. Cậu thấy sao?
Ngạc nhiên còn đó, Hòa chẳng biết nói lời nào cho đúng, vì cậu cũng không rõ ý định của Húi Cua là gì. Tại sao cậu bạn lại hỏi cậu điều đó, và cậu nên trả lời thật hay bông đùa? Liệu khi cậu đáp lời, có nhận lại một tràng cười hay câu bỡn cợt kiểu “Đùa cậu chút thôi!”, hay là khuôn mặt như đang chăm chú lắng nghe của cậu bạn nhưng thực ra chỉ là đợi thời cơ để cười to theo cái kiểu cách mà nếu thể hiện vào lúc này sẽ không hơn một trò lố? Vừa mới lúc ngồi vào bàn, Hòa đã bị bạn rầy vì quá xem trọng nghi thức phép tắc, liệu cậu ấy có nhân đây mà bày ra trò gì đó với mục đích như cậu ấy thường nói là “Rắc chút muối vào lối sống của cậu” không? Nhiều lần Húi Cua đã pha trò thái quá, đến mức Hòa chỉ muốn cho cậu ta ăn “bánh giày” đến no. Nhưng dù thế nào thì cậu bạn đang ngồi trước mặt Hòa đây cũng là người rất tốt, nên Hòa không có lý do gì phải nghi ngờ, đúng không? Nhìn ánh mắt nghiêm nghị đến khác lạ của Húi Cua, có thể sẽ là bắt đầu cho một cuộc chuyện trò nghiêm túc nhất từ trước đến giờ, làm Hòa cứ thấy băn khoăn. Hồi lâu, rốt cục cậu trả lời một câu vô thưởng vô phạt:
_Tớ thấy cũng ổn.
Có lẽ chưa bằng lòng với câu trả lời của Hòa, Húi Cua nói một mạch, giọng tỏ rõ sự nghiêm túc(và Hòa hiểu đó là biểu cảm thực chứ không phải chỉ là cái mặt nạ để lòe cậu hay bỡn cợt như mọi khi nữa):
_Cậu trả lời có nhiệt tình chút được không? Tớ là bạn cậu, phải chứ? Vậy nên tớ có quyền được hiểu về cậu. Cậu có thể bác lại tớ rằng “không nhất thiết phải hiểu nhiều về nhau mới trở thành bạn tốt”, câu đó đúng, nhưng thiếu vế này: “…nhưng bạn tốt thì chắc chắn sẽ hiểu nhiều về nhau”. Cậu đã lắng nghe tớ kể nhiều chuyện, những chuyện tớ trải qua và những chuyện tớ chứng kiến đâu đó, tớ rất cảm kích. Tớ biết cậu là người sống nội tâm, nhưng những điều tớ hiểu về cậu, cũng chỉ có như thế. Hai chúng ta giống nhau Hòa ạ, từ hôm đầu ngồi ăn cùng cậu ở cái bàn này, câu đầu tiên tớ nói cậu nhớ không? Tớ đã nói với cậu: “ Xin chào tôi thứ hai” và tớ nhớ y nguyên cái khuôn mặt ngố tàu của cậu lúc đó, khá là mắc cười (lần này thì Húi Cua dừng lại để cười thật, nhưng rồi nhanh chóng trở lại vẻ nghiêm túc) . Cái kiểu ngồi ăn một mình của cậu, tớ ngỡ như đang nhìn mình trong gương, và càng thân quen với cậu tớ càng thấy điều đó là đúng. Chúng ta giống nhau, hầu hết mọi thứ trừ cái việc thể hiện cảm xúc ra bên ngoài. Khó khăn không khi cứ lặng im và sống như vậy? Tớ tin cậu có nhiều ước mơ, nhiều tham vọng, trong đôi mắt của cậu, dù mơ hồ nhưng vẫn có thể thấy một ngọn lửa nóng bỏng. Cậu đã từng đam mê chứ, đam mê đó là gì và bây giờ ra sao? Tớ muốn biết, muốn hiểu hơn về cậu, bạn thân mến à. Tớ không muốn nhìn người anh em của tớ lúc nào cũng hao mòn như vậy. Năm rồi cho đến giờ, chẳng thể chối cãi là cậu đã gầy đi rất nhiều, nhìn qua cũng thấy, làm gì có một cuộc sống “ổn” nào lại dẫn đến kết quả phi lý như thế? Nhiều lần tớ muốn hỏi cậu, nhưng nghĩ có những chuyện tớ không nên xen vào nên thôi. Nhưng bây giờ nó không còn là chuyện riêng cậu, vì cái điều cậu đang làm dù có là gì cũng đang ăn mòn cậu, làm cậu kiệt sức, và tớ không thể trơ mắt mà nhìn người bạn đích thực (đến đây Húi Cua dừng lại để nhìn vào mắt Hòa, thật sâu trong vài giây như để cho những lời nói của mình lắng xuống trong tâm trí bạn , rồi lại tiếp tục) của mình như vậy mãi được. Nếu tôn trọng tớ, hãy kể tớ nghe đi. Nhiều lúc tớ tự hỏi bản thân : “Liệu Hòa có thực sự coi mình là bạn?”, không phải vì tớ không tin tưởng cậu, mà là tớ đang mất niềm tin vào chính mình. “Vị thế của tớ trong mắt cậu là gì khi chỉ mãi là người kể, giống như trò chuyện với bức tượng Người Suy Tưởng ấy, như thể cậu vô tâm và chỉ coi tớ là vô hình” , đấy, tớ đã nghĩ như thế đấy.
Nói xong, cổ họng khát khô làm Húi Cua đành tạm hớp một miếng nước dùng (giờ đã nguội lạnh) cho vơi bớt. Cậu cười với Hòa như thay thế cho dấu chấm cuối đoạn nói của mình, khi nước dùng vừa trượt xuống cuống họng tạo một cảm giác thật dễ chịu.
Lặng yên đến khi bạn nói xong, Hòa bỗng mỉm cười. Nụ cười tươi nhưng ánh mắt thì man mác buồn, buồn hơn cả ánh mắt của Hòa ngày thường. Bầu không khí bỗng nặng trĩu lại, và nếu không có tiếng Húi Cua cất lên chắc sẽ còn nặng nề lâu nữa
“Có chuyện gì sao Hòa?”
Hòa, vẫn với biểu cảm như thế, đáp lời nhẹ nhàng:
_Cậu làm tớ nhớ đến một người.
_Kể tớ nghe nào- Húi Cua nói với nhịp độ bình thường nhưng vẫn có một chút sốt sắng.
Lần này, Hòa không khước từ việc kể chuyện nữa, và lần đầu tiên Húi Cua đã được vào vai người nghe. Ánh mắt Húi Cua chăm chú khi người bạn của cậu bắt đầu cất giọng hoài niệm.

0

Related Posts

Leave a Reply

Site Menu