#33 MIRRORED

0

Nhóm tác giả: Ếch Òng.

 

Giới thiệu: Tại sao thời gian thay đổi?
Để đổi thay vạn vật.
Tại sao vạn vật đổi thay?
Để bắp kịp thời gian.
“Đừng đặt niềm tin vào Hoàng tử! Khi người cần phép màu, phù thuỷ chính là kẻ phải tìm!”
― Catherynne M. Valente, In the Night Garden.

 

 

MIROIR 1: KẺ DẪN ĐƯỜNG

Tích tắc tích tắc!

Những bánh răng xoay vòng, ba chiếc kim đuổi nhau không ngừng nghỉ. Tiếng động phát ra từ cỗ máy đếm thời gian đánh thức tôi khỏi chuyến du hành tìm người giúp đỡ.

  • A, giờ thứ nhất về rồi!

Giọng nói the thé quen thuộc của Anna – búp bê hỏng càng khiến tôi chắc chắn mình đã về đến Nhà. Nhà Gương là nơi tất cả chúng tôi, mọi linh hồn lãng đãng, vất vưởng nương nhờ. Sở dĩ gọi như thế vì khắp mọi chỗ trong Nhà đều có gương, và một lẽ: chỉ cần một mảnh gương phù hợp dung kích, cả chó mèo, con người, hay linh hồn, đều có thể đến. Nếu còn sống, con người cần thêm ánh sáng ma quái dẫn lối, chẳng hạn nến, hoặc trăng, hoặc lửa ma trơi. Nếu là linh hồn, chỉ sự thật đã chết cũng đủ cho tấm vé đến Nhà Gương.

  • Giờ thứ nhất, do re mi fa, giờ thứ hai, sol la si do…

Phía trước tấm gương nhỏ tôi dựng tựa vào bức vách hiện lên một cây piano sút phím long dây. Dù chẳng ai ngồi bấm, chiếc dương cầm vẫn tự chơi bản nhạc quái gở.

  • Stewart, câm đi ! Giờ thứ nhất chỉ mới về thôi ! – Anna ngân giọng quát.
  • Cảm ơn Ann ! Stew, anh có thể chơi bản nào, valse hơn không ? – Tôi hỏi.
  • Thưa quý nương, xin phục vụ !

Tôi vuốt ve mái tóc xoăn vàng rối mù của Anna. Cô bé từng là hồn ma bị bỏ rơi trong bệnh viện. Cô thích búp bê đến nỗi ám mọi cửa hàng đồ chơi trong khu phố, cho đến khi tôi tặng cô bé lớp vỏ ngoài bằng plastic mang dáng tiểu Barbie. Anna vui tới nỗi thổi tung kính cửa sổ tiệm búp bê đã vứt con hình nhân hỏng.

  • Giờ thứ nhất đi lâu quá, Anna buồn, nên sang thế giới sống chơi với « mẹ », mà ai cũng xa lánh Anna cả…

Cô búp bê thút thít, cặp mắt đục ngầu phọt khỏi hốc nhựa. Tôi bèn dỗ dành :

  • Ann yêu quý, thế giới đó chẳng còn là chốn ta thuộc về nữa. Đừng buồn khi con người sợ hãi, xua đuổi em !
  • Đúng rồi, Anna có nhà, Nhà Gương. Anna có cả 12 giờ.
  • Hãy thôi theo ám con người nhé ! Nhỡ như họ gọi trừ tà bắt em, chẳng phải 12 giờ sẽ rất phiền lòng sao ?
  • Khé khé khé, Anna biết mà. Cơ mà Anna cuồng tiếng thét của họ ọ ọ…

Cô búp bê phấn khích nhảy múa, đánh rơi cả cẳng chân trái, ư ử ngâm giai điệu bỏ hoang. Tôi chợt nhớ về khoảng thời gian Anna mới đến, tôi phải lặn lội lôi cô bé về, trước khi cô bé nát bét dưới sợi xích của thầy trừ tà vùng Yorkshire, vào lúc Anna ở lì trong ngôi biệt thự mặc kệ sự hoảng loạn của gia đình con người sở hữu nơi ấy.

  • Ann ngốc, do re mi, Ann điên, fa sol la, Ann bị đẩy xuống Hố, si doooo…
  • Stew, mi mới là kẻ bị đẩy xuống Hố !

Cây piano vừa chạy vừa cười điên loạn, ra vẻ hí hửng, còn cô búp bê dù sút một chân vẫn rượt theo. Xin phép được kể về Stewart ! Anh ấy là nghệ sĩ dương cầm thế kỉ XVII, chết do hoả hoạn. Ngày đầu gặp Stew, anh ta khóc lóc, thảm thiết, không ngừng rên rỉ về người vợ chưa cưới của mình. Làm yên lòng Stew là cả một quá trình, và thuyết phục anh ấy, thay vì chơi đàn ở Vienne khiến người người khiếp đảm – « hãy trở thành chiếc piano của Nhà Gương » , toát hết mồ hôi.

Đó là cách nói thôi ! Bây giờ tôi cũng không có mồ hôi để toát nữa. Tôi chẳng khác mấy vạn linh hồn đang lai vảng tại chốn sầu thảm này. Điều duy nhất khiến tôi đặc biệt : tôi đã xây dựng Nhà Gương. Tôi đặt lâu đài 7 tháp làm trung tâm, chính nơi tôi đang ngồi, xung quanh, vô số mảnh gương nổi trôi lơ lửng giữa dòng năng lượng cung cấp cho các hồn ma, kí ức và tình cảm của chúng. Lạnh, tranh tối tranh sáng, lềnh bềnh, huyễn hoặc, là những từ tôi dùng để mô tả căn nhà tự tay làm nên.

  • Ann hãy rơi xuống Hố ! Do si la sol ! Hố hãy hút lấy Ann ! Fa mi re doooo
  • Giờ thứ nhất, tống Stew xuống Hố ngay ! Ta sẽ đốt mi ra tro, cây đàn chết tiệt !

Bàn chân nhựa nổi vảy dậm thình thịch. Thấy thế, chiếc piano càng cười to hơn. Cả hai biến mất khỏi không trung, rồi hiện lên trong gương, tiếp tục trò đuổi bắt từ tấm này qua tấm nọ.

  • Ann, Stew, đừng chọc phá người khác. Để yên cho họ ngủ đi !

Tuy nhiên, giọng nói của tôi không có vẻ nào của một câu lệnh. Họ khua khoắng cả một góc Nhà xôn xao. Chiếc tách vỡ ôm lấy bình trà, nước ào từ miểng kiếng, lửa xanh phập phừng, bộ xương sắt tung hứng mấy mẩu xương bàn ngón, cùng hàng ngàn linh hồn trong suốt vật vờ lượn qua lại.

  • Giờ thứ hai sẽ giết tất cả các người… ! – Tôi càm ràm, nhìn xuyên qua tất cả sự hỗn loạn, vào chiếc đồng hồ hình tháp với kim giờ đang nhích xa khỏi vạch số 1.
  • Tống nó xuống Hố ! Tống nó xuống Hố !

Cư dân ở Nhà Gương rất khoái đem Hố hù doạ nhau. Hố, là tên chúng tôi thân thương gọi con đường đến cõi vĩnh hằng. Một khi bước trên đó, linh hồn sẽ mất tất cả, từ cái tên, kỉ niệm lúc còn sống đến mọi ý chí, tình cảm, quan niệm. Có hai cách để rơi vào Hố nếu ở Nhà Gương : một là bị tôi tống xuất, hai là linh hồn tự nguyện rời đi.

Tôi rất rõ kết cấu của Hố. Họ gọi tôi là Kẻ dẫn đường. Đại khái, tôi nắm mọi con đường dịch chuyển xuyên không gian như úp mở lòng bàn tay. Tôi tường tận về cấu trúc phối hợp ngôn ngữ, phép thuật thô, phép thuật tinh, ấn vật, bản chú tạo nên mỗi con đường. Tôi có thể biến từ hành tinh này sang hành tinh khác, gõ cửa mọi Nhà, tìm người tôi cần dễ dàng, hoặc đưa bất kì ai đến nơi họ muốn.

Tuy nhiên, đó không phải là tất cả tôi có. Chắc chắn khả năng của tôi hơn một chú ong đưa thư. Nó giải thích vì sao tạo hoá để tôi quản lý một Hố. Dù vậy, tôi không biết tiến vào Hố thì sẽ như thế nào ; cũng không rõ điều này nên hay không, tốt hay xấu. Chính bản thân tôi chẳng có can đảm, và chẳng còn kẻ nào trở lại từ chốn ấy để kể tôi hay. Tôi rất tò mò, nhưng tôi ngại, đánh mất tất cả sức mạnh, tri thức, và ngôi nhà tôi xây.

Cây kim phút óng ánh vàng nhích qua vạch số XI, đám đồ vật, các vệt hồn ma trắng, vệt xám, vệt đen nháo nhào quay trở lại vị trí cũ. Đã sắp đến giờ thứ hai.

  • Giờ thứ nhất, khi nào kiếm cho Anna cơ thể người nhé ! Người thật cơ !
  • Ann, như thế là phạm luật đấy. Nhà của chúng ta sẽ bị đánh sập, mọi hồn ma sẽ tứ tán.

Tôi cầm bàn tay sứt mẻ, âu yếm nhìn gương mặt trừng trừng giận dữ của Anna tựa đang cố nguyền rủa tôi.

Ở đây, không kẻ nào được phép làm như thế. Sức mạnh chống đỡ Nhà là từ tôi. Và tôi nghĩ mình đã rất nhân nhượng với họ. Một số linh hồn chứa tiềm thức rõ, họ luôn khao khát có được thể xác. Tuy nhiên, vạn vật đều mang phần hồn. Tôi chỉ cho phép họ hoà hợp với vật không sống mang năng lực tâm linh ổn định. Nếu bất cứ kẻ nào phạm luật, tôi sẽ thẳng tay đưa họ vào Hố. Từ thuở khai lập đến nay, con số ấy không hề ít.

Phương pháp có giới hạn. Chẳng hiện hữu cách nào toàn năng, đáp ứng mọi điều kiện, thoả tất cả yêu cầu, mà đòi hỏi ít tốn kém năng lượng. Việc tôi đưa quá nhiều vật từ thế giới ngoài vào Nhà khiến kết cấu hạ tầng bị tổn hại. Thú thật, tôi không đủ sức duy trì quá nhiều sự tồn tại thuộc bên ngoài trong thế giới ảo sinh ra từ phép thuật mọn cỏn con, so sánh với mẹ thiên nhiên vĩ đại. Vì vậy, Nhà Gương bắt đầu lung lay. Lúc trước, linh hồn có thể vào ra tấm gương đến thế giới họ từng sống hoặc về Nhà, thì hiện tại, sự xáo trộn giữa thời gian, lẫn không gian tăng đột biến họ di chuyển. Tôi cảm nhận được cơn gầm gừ của nền móng chú thuật, bên dưới sức nặng của hàng vạn linh-vật.

Tôi đã tìm đến Vòng xoay, Nhà của những phù thuỷ chuyên các thủ thuật thời-không, và được họ cho mượn đồng hồ tháp. Nó lấp lại các bước nhảy cóc thời gian Nhà Gương mắc phải, đồng thời thiết lập trục thời-không ảo tại Nhà Gương, do đó rắc rối tạm được giải quyết. Nhưng có vẻ tôi bị chơi khăm, đồng hồ đáng ghét ấy bẻ tôi thành 12 phần, chỉ hợp nhất khi 3 chiếc kim nằm trên một đường thẳng, nghĩa là sau 12 tiếng khuyết tật, tôi chỉ còn 1 giây để là chính mình.

Giờ thứ nhất : kẻ hoài niệm.

Giờ thứ hai : ác mộng hiện thân.

Giờ thứ ba : bữa tiệc nước mắt.

Giờ thứ tư : sức mạnh điên cuồng.

Giờ thứ năm : hồn ma giáo điều.

Giờ thứ sáu : linh hồn thuần khiết.

Giờ thứ bảy : kẻ tò mò.

Giờ thứ tám : tên lừa đảo.

Giờ thứ chín : bồ câu chăm chỉ.

Giờ thứ mười : kẻ ngủ ngày.

Giờ thứ mười một : bóng đêm u uất.

Giờ thứ mười hai : vị cứu tinh.

Chiếc kim phút nhích đến vạch XII, kim giờ sát vạch II. Tôi nhắm mắt, chuẩn bị nhường chỗ cho phần tôi khác.

  • Giờ thứ nhất, ngủ ngon nhé !
  • ừ, tạm biệt Ann !

Giây cuối ngày hiếm hoi vừa qua, tôi kịp thời rời Nhà Gương đến gặp Niên vận hoạ sư, người được chọn bởi những ấn chú vật tạo ra thế giới. Đó là một cô gái, còn sống. Cô ta hứa sẽ giải quyết sự cố Nhà Gương khi xong các « đơn hàng » trước.

Cứ kiên nhẫn cho tới lúc tôi lại được là tôi, toàn vẹn.

Còn một việc, Nhà Gương không ngày cũng chẳng đêm. 12 giờ hoàn toàn là trò xỏ lá ba que của mấy gã Vòng xoay.

Tôi, giờ thứ nhất, một kẻ hoài niệm.

Trong lúc chờ đợi, hãy nhâm nhi tách trà, lắng nghe câu chuyện vì sao tôi trở thành Kẻ dẫn đường !

Chuyện được kể vào chuỗi ngày tôi còn là con người.

 

*        *        *        *        *

 

  • Sonya, mày lại gây gổ với thằng cha bán thịt à ? Lạy thánh thần, tại sao tao lại sinh ra một đứa vô dụng, phiền toái như mày chứ !

Tiếng mắng ồm ồm khản đặc vọng ra từ gian bếp. Cha tôi vừa trở về từ hầm mỏ. Ông đói ngấu. Bữa ăn đợi sẵn chỉ có cá nhòng, cá lưỡi trâu, xà lách trộn giấm, bơ nướng. Thất vọng, ông giật túm râu dơ hầy, gầm lên :

  • Con khốn, mày chỉ cho tao ăn cá và rau để quật đá thôi à !

Mắng như thế, chứ cha tôi là người dễ tính. Ông chưa và sẽ không bao giờ đánh, hoặc đuổi tôi đi. Nhưng anh trai tôi thì chẳng nghĩ thế. Hắn lấy que củi khô, ném vào xó tôi đang đứng. Tôi bèn co chân, nghiêng người né. Hắn đấm vào cột nhà, quát tháo, rồi cũng ngồi vào bàn. Mẹ tôi tỏ ra bực dọc, bẻ đôi ổ baguette cứng như cời lửa.

Thôi được ! Tôi thừa nhận, gia đình tôi, ai cũng tốt bụng. Cả cha mẹ, anh trai tôi đều làm tại mỏ đá, nơi khai thác các hòn sỏi lấp lánh để lát tường nhà quý tộc. Cha cùng anh kéo đá ở miệng quặng, mẹ phân loại xử lý chúng tuỳ kích cỡ, độ mềm cứng và phản quang. Tôi còn một chị gái, giờ đã làm dâu xứ Halerei xa xôi miền cực bắc.

Tôi, Sonya Ravenir, đứa con gái út, ốm yếu và hay bệnh lặt vặt. Đã 14 tuổi đầu, tôi vẫn phải ở nhà, trông hai con gà trống, nấu ăn, quét dọn, và các việc lặt vặt tốn sức khác.

  • Lúc tao bằng tuổi mày, đã đi kéo đá rồi. Mày thật vô dụng – Anh trai Rockey xỉa xói khi tôi ngồi đan khăn choàng lai giẻ rách.
  • Vâng, công việc rất hợp với một con bò như anh…

Rockey trợn mắt, nanh giương. Tôi chữa cháy:

  • Còn một con chuột nhắt như tôi thì phải rúc xó ổ chuột thôi!

Thật vậy, nhà tôi nằm ở khu xóm lá dành cho công nhân mỏ. Gian nhà lụp xụp làm từ gạch vụn, đất, lá cây, gỗ mọt, rung rinh theo chiều gió thổi. Gian của mỗi người chỉ được ngăn sơ sài bằng mấy tấm cỏ tranh. Khu nhà cách mỏ nửa dặm, tồi tàn, xa chợ búa, thiếu thốn mọi tiện nghi.

  • Bữa tối mà không có thịt thì liệu hồn!

Anh trai vuốt tay áo sơ mi vải cứng đầy bụi đất, đoạn đội chiếc mũ bồi, vác theo cuốc thuổng. Thân hình anh cường tráng săn chắc, cao gần gấp đôi tôi.

  • Rocky, anh chỉ đi kéo thôi, đem cuốc chi vậy? – Tôi nói với, giọng trêu chọc.
  • Câm đi, Sonya! Tao xin vào đội đào rồi, lương cao hơn hẳn. Còn mày, bằng mọi giá phải mua được thịt. Đừng có vèn tiền của tao!
  • Thèm vào! Tôi còn chi ly tiết kiệm cho anh đấy. Cha, chúc may mắn! Mẹ, chúc may mắn! Rocky, đá rơi phải đầu anh đi!

“Chúc may mắn!” là câu tôi rất thích để tiễn chào gia đình. Tôi chẳng thể giúp gì cho họ, làm công việc của họ bớt cực khổ, nên tôi sẽ cầu mong vận may mỉm cười với những người thân.

Thời tiết ở Weinver đang mùa khô khan, oi bức, vì vậy, nước trong nhà hết rất nhanh. Tôi cần ra kênh nước đào xách thêm về để nấu nướng, tắm gội, giặt giũ. Khó một nỗi, tay chân lòm khòm của tôi không thể xách quá hai xô, tổng cộng 4 gallon một lần, mà thùng chứa đến tận 60 gallon, vị chi là 12 lần xách. Tôi huy động mọi vật chứa trong nhà, từ nồi niêu xoong chảo, đến lọ cắm hoa duy nhất, chứa được 21 gal và dùng đến chiếc xe kéo Rockey sửa cho phù hợp. Đặt thùng lên xe, lần thứ nhất, tôi lấy đến 1/3, đem về, sang ra vật khác; lần thứ hai, tôi lấy một nửa. Tôi đổ tất cả vào lại thùng, và xách thêm chuyến nữa.

Tôi muốn tìm một cách nào đó để lấy 60 gal nước chỉ bằng 1 lần đi. Nhưng có lẽ, tôi hy vọng có thể đưa nước tận nhà mà chẳng cần phải lặn lội tới bất kì đâu. Tôi nghe ở chợ họ nói, tại các toà thành đúc cao vợi, có hệ thống ống phân phối, chỉ cần mở vòi, nước sẽ chảy ra. Đối với xóm nhà nhân công mỏ, đó là công trình mơ ước xa vời.

Tôi thở dài, đầu vẹo sang một bên:

  • Cháu xin lỗi! Hãy bán cho cháu 2 pound thịt ba rọi đi ạ! Rocky sẽ giết cháu mất.

Ông chủ cửa hàng thịt vênh váo, rồi cũng đặt miếng thịt nửa nạc nửa mỡ lên cân. Chốn chợ búa buôn gian bán lận, người người nhà nhà tính toán hòng mong lừa lọc lẫn nhau, kẻ bán rau gạt tên bán cá, tên bán cá gạt người bán vải, người bán vải lại gạt kẻ buôn thịt, kẻ buôn thịt tiếp tục gạt tên bán đậu. Một cái vòng lẩn quẩn không ngừng, và tôi là người trực tiếp bị nghiền dưới dưới cái bánh xe ngớ ngẩn ấy. Vì thế, tôi vạch trần trò lập lờ, từ chiếc cán cân bên dài bên ngắn tinh vi, đến từng ổ bánh mì rỗng ruột. Họ lập tức tẩy chay tôi, đuổi đi khi vừa nhìn thấy. Thật không may cho tôi: tên bán thịt ban sáng sử dụng những quả cân bằng nam châm bị tôi phát giác, là nguồn cung cấp thịt duy nhất tại khu chợ. Do đó, tôi đành muối mặt chấp nhận xin lỗi.

  • Trẻ con thì đừng có tò vè! 50 ren!

Hắn ném miếng thịt rớt “bịch” trước mặt tôi. Tôi đếm 10 đồng 5 ren, lòng cay đắng. Hắn giật lấy tiền, đẩy tôi đi cho khuất mắt.

Xin lỗi Rockey! Là do anh thích thịt nên đành chịu vậy.

Chuyện mua thịt cá, rau củ, ngũ cốc nơi chợ búa tán loạn không là vấn đề khó chịu duy nhất. Tôi còn một núi áo quần bốc mùi như xác chết mà cha và anh trai ném cho mỗi ngày. Muốn gột sạch bùn đất, mồ hôi bám trên sợi vải  cứng, phải cật lực chà bằng giẻ kim loại. Nếu tuân theo quy trình ấy, tôi sẽ tắt thở trước lúc chúng được giặt xong. Đừng lo, Sonya! Với tro bếp nóng sau khi nấu bữa tối ngâm cùng, mớ quần dài, áo sơ mi, áo cộc chắc chắn sạch bong.

Chân trời là đà sẫm đen, bóng cây cọc gỗ đầu cổng hướng sang chái nhà, tôi biết đã đến lúc lùa hai con gà trống vào chuồng. Bọn chúng ham chơi, chân cao chân thấp nhảy tán loạn. Bứt ngọn cỏ rầu rĩ đặt lên đôi môi nhỏ của mình, tôi thổi. Nửa chữ cắn đôi về nhạc lý tôi chẳng tường, nhưng tôi vẫn chơi điệu nhạc theo ý thích. Bọn gà thôi không chạy, ngoan ngoãn vâng lệnh tôi, bước khoan thai vô rọ. Như mọi buổi chiều, tôi ngóng sang những ngọn tháp thẳng nhọn uy nghi cách gian nhà nửa ngày đường.

Tôi vào bếp,  xếp củi theo hình nan hoa, rải rơm, rồi búng ba ngón tay. Lửa bắt đầu bén ngọn, và bùng lên trong chớp mắt. Tôi từng thấy cha đánh lửa bằng cách cọ xát hai hòn đá thật mạnh, nhưng với sức vóc của tôi, chúng còn chẳng buồn nóng lên.

Cuộc sống của Sonya không thể thiếu những mánh khoé nho nhỏ.

  • Mày hầm thịt với đậu à? Ngon đấy… Đậu rất mềm… Khoan, mày đã đốt bao nhiêu than để hầm chúng nát bét vậy Sonya?
  • Hai cục to bằng cái đầu của anh thôi, Rocky yêu dấu!
  • Bớt láo toét đi con nhãi!

Tôi nghiêng đầu, liếc mắt vào đống than. Rockey nhanh nhảu dòm xét, thoạt tròn mắt.

  • Không thể nào!
  • Có thể chứ!
  • Mày đã làm trò gì vậy? Chỉ tao với!
  • Thuốc muối.
  • Mày thuốc cho tao chết, lấy ai gánh vác cái nhà này, hả con khốn?
  • Thuốc muối, không phải thuốc diệt bò. Nó là bột để pha soda ấy!
  • Thật thế à ?
  • Thật ! Không tin thì Sonya này ăn hết !
  • Khoan ! Mày ăn một bát thôi !

Tôi nhún vai. Quả thật bao tử nhỏ bé của tôi không cho phép ních nhiều hơn thế.

  • Mày lỏm trò đó ở đâu vậy ?
  • Bí mật. Mà một con trâu chuyên húc như anh sẽ không bao giờ hiểu đâu.

Nhìn bộ dạng tẽn tò buồn cười của Rockey dưới ánh lửa từ đèn măn-sông, tôi thấy ấm áp lạ thường. Ăn uống no nê, rửa, lau khô chén dĩa, tôi ngồi vào bàn, rút ra tờ giấy, chăm chú vào từng nét chữ. Rockey đã gia nhập hội chè chén cùng cha và mấy người bạn.

  • Sonya, mày lại lười biếng nữa ! Phụ tao vá đống đồ rách này đi !
  • Con không có lười mà mẹ.

Tôi đón lấy thúng khâu, gối kim, tép chỉ từ tay mẹ. Bà không cao, dáng người vừa vặn, và là một phụ nữ khoẻ khoắn. Đôi tay bà nhặt thoăn thoắt các viên đá, cặp mắt sắc sảo diều hâu chỉ lướt nhẹ, chúng đã được phân loại hết sức chính xác. Dù vậy, phải quán xuyến quá nhiều thứ, mẹ chẳng có thời gian gần gũi, trò chuyện với tôi. Mà thật ra, tính tình bà chất phác như hòn đất, tuy quan tâm nhưng nói năng kiệm lời.

  • Không lười, mà lúc nào mày cũng rảnh tay…
  • Con chỉ tìm được cách rút ngắn thời gian làm việc thôi mà mẹ. Có khi nào rơm không chất thành đống, gà chạy rông, nước cạn và quần áo bẩn đâu.

Mẹ vỗ vào má tôi, phát tiếng « bốp ». Theo bà, nó nhẹ hẫng như nựng yêu, theo tôi, nó là cái tát đúng nghĩa.

Mọi thành viên mang họ Ravenir đều có tướng tá cao to, hay chí ít cũng đạt dáng dấp tầm trung. Lúc chị ba Marey bằng tuổi tôi, chị hơn tôi tận 1 foot, nảy nở, thu hút bao nhiêu gã đàn ông « trồng cây si trước ngõ ». Dường như tôi lạc loài, riêng một cõi bé hạt tiêu, vừa ốm vừa yếu.

  • Mẹ, con thật sự là con ruột của cha mẹ chứ ? Tại sao con trông khác quá ? Mà hễ mỗi khi cha gặp con lại đá thúng đụng niêu…

Tôi buột miệng hỏi, tay vẫn lùa mũi kim qua gấu quần vá chằng vá đụp. Mẹ tôi ngáp, buông chiếc nón bà thêu hoa dở. Và thêm một cái nựng-tát.

  • Tao đẻ ra mày thật đấy. Hồi đó mày quấy lắm, khóc dạ đề suốt. Cho mày ăn mãi chẳng phì ra được. Rõ tốn cơm !

Mỉm cười, đôi mắt nâu xỉn của mẹ lim dim, nhớ về thời thiếu nữ.

  • Còn cha mày, gặp ai lại chẳng đá đấm lung tung. Lão gàn, vụng hết chỗ nói !
  • Thế vẫn có người chịu ưng mới tài chứ lị.

Một cái nựng-tát nữa. Chiếc răng cối trong miệng tôi sắp lung lay và sút khỏi hàm.

Hôm nay mẹ nói nhiều hơn bình thường. Bà kể về chuyện ngày xưa thơ ấu, lớn lên, rồi gặp cha. Chẳng mấy chốc, chỉ còn mình tôi ngồi may vá, mẹ say sưa bên ngọn đèn tiếc nhớ quá khứ.

Mũi kim cuối cùng. Tôi thắt nút, lia chiếc kéo rỉ sét cắt ngang, thoạt mày mò tiếp mẩu giấy.

  • Gì đấy Sonya ?
  • Tờ rơi cửa hàng gương.
  • Mày đang làm gì cơ ?
  • Đọc nó ạ.
  • Đọc ? Nhà này có ai biết chữ đâu…

Đó chính xác là nỗi trăn trở lớn nhất của tôi : học chữ. Cha mẹ, anh chị đều không biết đọc, xung quanh hoàng xóm láng giềng cũng không. Mỗi khi đi ngang qua tấm biển nhà buôn bán, tôi chạnh lòng đến xót xa. Tôi, chí ít muốn hiểu được những chữ cái loằng ngoằng đó. Dù là mơ hồ, tôi cảm thấy chúng ẩn giấu sức quyến rũ lạ kì. Thật buồn thay, gia đình tôi chẳng đủ tiền gửi tôi đi học, và họ cũng không nhận ra sự cần thiết của việc ấy.

  • Mẹ à, chúng ta nghèo, nên con sẽ tự học vào thời gian rảnh rỗi.

Nói vô cùng dễ dàng, bắt tay vào thực hiện mới thấy trần ai. Không bút, không giấy, không thầy, hoàn toàn không có cách.

Sonya là một đứa vừa ốm vừa yếu, nhưng cứng đầu.

  • Mày, tốn công phí sức học chữ làm chi ! Lo rèn giũa kĩ năng may vá, thêu thùa, đan móc, đặng còn có nghề nuôi thân…

Nếu phải ngồi đan cả đời, thà lên núi đá đè, tôi thầm nhủ. Thấy tôi im lặng, mẹ lại thở dài, tiếp tục :

  • … Mày cũng phải gả đi, sinh con đẻ cái, rồi chăm nom con, coi sóc việc nhà…

Tương lai ấy có vẻ ốm yếu hơn cả tôi, và cực chán.

  • … Chúng ta là dân lao động, sống đời lao động là vinh quang. Học hành không phải việc của chúng ta.

Cãi vã cũng không phải việc của tôi. Tôi chẳng ngắt lời, hay phản bác mẹ. Bà mang niềm kiêu hãnh của riêng bà, tôi thấy nó rực ngời trong đôi mắt. Nhưng trái tim tôi mách bảo, lí lẽ trên vai gia đình Ravenir không thể áp lên tôi.

Tôi khao khát nhiều hơn một nơi để về, ăn uống, chè chén vui vẻ, mong ước nhiều hơn người chồng to khoẻ cùng bầy con bụ bẫm. Có rất nhiều điều về cuộc sống khiến tôi thắc mắc. Thuở còn bé, tôi rất khoái đặt câu hỏi : « Tại sao thân cây lại hình trụ ? Tại sao chỉ có một mặt trời ? Tại sao con người không thể bay ?… », nhưng cha mẹ chỉ biết cho qua. Lớn hơn nữa, tôi bắt đầu suy tư nhiều : « Tại sao cha mẹ và anh trai tôi, dù cực khổ, lại kiếm về quá ít tiền ? Tại sao chị gái tôi phải lặn lội lên phương bắc băng giá ? Tại sao chúng tôi, những người khai mỏ, chẳng được phép sử dụng viên đá do chính mình đào lên ?… »

Nếu tôi đọc được chữ, thế giới mới sẽ mở ra. Tôi có thể dẫn nước về xóm nghèo đói, khang trang những ngôi nhà xập xệ, thậm chí tìm thêm mối bán thịt. Tôi biết, cắm mặt vào việc nhà, cố sức mồi chài gã nào đó, hoặc vùi thây nơi hầm mỏ, đều chẳng là cách thoát khỏi khổ sở, bất công.

Tôi nhỏ bé, yếu đuối. Tôi không thể dùng sức mạnh để trấn áp.

Tôi chẳng đẹp. Má hóp đầy tàn nhang, tóc hạt dẻ rối, mắt xám, môi tái, thân thể chưa phát triển, tôi không thể rù quến ai bằng vẻ ngoài ốm đói.

Chỉ còn vài sự lựa chọn để cầu viện : tri thức, hoặc phép màu.

Dẫu là thế, Sonya đang lâm vào trì trệ và bế tắc. Tôi muốn đến vùng đất xa hơn khu mỏ, chợ và cánh đồng bỏ hoang.

  • Sonya, tuần tới chúng ta sẽ vào thành.

Cha tôi đập tay lên mặt bàn thông báo. Tôi dụi mắt, giật mình khỏi cơn mơ vùi vì đất trời như rung chuyển dưới bàn tay khổng lồ. Ông lại gầm lên khắp nhà :

  • Henne, mẹ nó dẫn Sonya sắm váy áo mới !
  • Cha à, may mặc bây giờ đắt đỏ lắm…
  • Không thành vấn đề ! Ta sẽ chi cho con 5000 ren.

Tôi há hốc, mắt trợn tròn. 5000 ren bằng 120 pound thịt, ngày ăn 4 pound cũng phải đến cả tháng. Cha đứng dậy, đến bên tôi, vỗ vào vai khiến mặt tôi ập xuống, sống mũi cao suýt gãy. Mẹ đếm những đồng xu rủng roẻng, cho vào túi, đoạn dặn tôi sáng mai vào trấn gặp thợ may.

Tôi ngủ sớm, hí hửng tột độ. Trấn Weinver tôi thỉnh thoảng ghé vào, nhưng tới tận trong cổng thành thì chưa bao giờ đặt chân đến suốt 14 năm trời. Đêm đó, tôi mơ mình cưỡi kì lân, lướt qua khu rừng rậm rạp đầy hoa trái. Bỗng chợt dây leo to oằn như thân trăn, uốn éo, che mất ánh sáng, khiến kì lân va vào thân đại thụ. Tôi lăn cù trên đất, thấy kì lân biến mất từ lúc nào. Những xúc tu lao tới tấn công tôi, cuốn lấy cổ chân, quấn lên bụng, ngực, rồi cổ họng…

« bốp »

Mẹ tát tôi đau điếng, vì tôi đã đá chân bà khi bà gọi tôi dậy.

  • Cảm ơn mẹ ! Giấc mơ thật kinh khủng…

Bà túm cổ áo ngủ tựa tấm vải trùm chỉ ló đầu tôi, lôi đến chậu nước.

  • Rửa mặt đi ! Còn vào trấn…

Tôi cảm thấy sự hằn học rõ rệt trong từng cử chỉ, lời nói của mẹ, nhưng tôi chẳng thể hiểu. Có vẻ như mẹ đang miễn cưỡng làm theo lời cha. Cả ngày, trông bà sắp đấm bất kì ai dám mời mọc, hay gây sự với bà. Dẫu thế, cuối cùng tôi quyết định mua một bộ váy trắng phủ gối may sẵn, giá 1570 ren, tiện lợi khỏi chờ đợi. Mẹ đếm tiền trao cho tiểu thương nhân, vẻ khổ sở dằn vặt. Tôi đọc được điều gì đó lớn lao, trầm trọng hơn chỉ là tiếc rẻ.

Tôi nhanh chóng quên đi linh cảm ấy, la cà khắp phố xá nhộn nhịp, chỉ trỏ, cầm nắm mọi thứ lạ mắt tôi chưa từng thấy : lọ nước hoa phương đông, thổ cẩm, giỏ đan lát,…, và gom tất cả tờ rơi họ phát nhét vào túi áo. Mẹ bảo tiền thừa, sẽ mua cho tôi món đồ tôi thích nhất. Tôi trề môi. Tôi không ghét, cũng chẳng thích món nào. Tôi chỉ yêu hành trình khám phá, và ghi nhận về chúng. Mẹ tôi gặng hỏi, buộc tôi phải chọn một. Cười vui vẻ, tôi hồn nhiên trả lời rằng tôi không cần. Mẹ con chúng tôi chẳng nói thêm lời nào nữa.

Đôi chân lướt trên nền gạch nung, mắt ngắm nghía các sạp hàng ven hai bên, tôi chẳng nhớ thời gian đang trôi qua vùn vụt.

Thoắt tới ngày cha hứa sẽ đưa tôi vào thành. Tôi vui quá đỗi, chẳng màng hỏi vì sao cha mẹ lại lặn lội xa xôi, còn mang theo đứa con gái vô tích sự.

Thủ tục vào thành Weinver không quá khó : giấy thông hành ghi lí do, cùng 200 ren/người lộ phí. Một cái giá cắt cổ, đối với chúng tôi.

Phía bên kia cổng thành khác hẳn. Từng khu vực được phân định rạch ròi bởi những bức tường cao 3 feet. Chúng tôi bắt buộc phải đi theo lộ trình định sẵn tại giấy thông hành, nếu đi sai, chốt kiểm soát khu vực sẽ bắt gọn cả ba. Đầu tiên chúng tôi đăng kí chuyển giao, khu vực đông đúc người chen lấn xô đẩy. Tiếp đến, là khu trung tâm có đài phun nước, đường phố chạy theo ô bàn cờ. Cứ hai lớp nhà khang trang nhỏ nhắn đấu lưng lại xuất hiện một ngõ lát gạch. Nhà cửa ở đây chủ yếu nhằm trưng bày sản vật vùng Weinver, khoe mẽ nền khai khoáng giàu mạnh. Bên trong các tủ kiếng bóng loáng là hàng ngàn mẩu khoáng vật, từ kim loại đến kim cương.

Một tấm gương xuất hiện.

Lần đầu tiên tôi được tận mắt trông thấy tấm gương gần đến nỗi, hình dáng một đứa con gái thấp bé vận bộ váy trắng xinh xẻo cười với tôi. Đôi mắt tôi chớp lia lịa, và tôi mãi ngoái đầu nhìn lại, vì cha đã túm lấy vai không để tôi chạy lung tung. Ven vệ đường là dãy hoa kiểng cắt tỉa gọn gàng. Người đi lại khu trung tâm hầu hết ăn vận tươm tất, trang nhã, lịch thiệp. Họ nói chuyện vẻ dè chừng, cười gượng gạo và dĩ nhiên, nịnh hót.

Giấy thông hành chỉ cho phép chúng tôi đi ngang trung tâm một quãng, rồi băng qua khu chợ ồn ào như mọi khu chợ khác, đến một chiếc cầu bắt qua sông, tiến thẳng vào dãy nhà ổ chuột. Tệ hơn khu nhà mỏ, tôi thầm nghĩ. Mấy con rạch đen đúa hệt hắc ín, bọn trẻ con mò nhặt đồ vật bị ném xuống lòng kênh. Mùi hôi thối của rác, súc vật chết, chất thải,… dậy khắp đường phố. Tôi nhăn mũi, buồn nôn, dù cha mẹ tôi hiên ngang đi thẳng về trước. Nhà cửa nhỏ và sát hơn nơi chúng tôi sống. Khá nhiều căn đã sập mà vẫn có người ở. Tiếng lo ó, gào thét chửi rủa vang không ngớt. Chúng tôi cố đi thật nhanh, phòng cướp giật, trộm cắp. Tôi đành nhắm mắt, bịt mũi, khua đôi chân liên hồi.

Cuối cùng chúng tôi đến khu trung lưu. Không đẹp và sang trọng bằng trung tâm, các ngôi nhà hai tầng tỏ ra kiên cố, vững chãi. Cứ cách 300feet, họ trồng một cây sồi. Nếu có thể, tôi rất vui lòng được trú tại một nơi khá đàng hoàng như chỗ này.

Chúng tôi dừng trước một ngôi nhà ngói đỏ hai tầng, bình thường như bao ngôi nhà sát cạnh. Cha vào trước, bảo mẹ con tôi đứng đợi. Khi bầu trời mang sắc cam sáng nhất ngày, ông mới trở ra. Ông thì thầm vào tai bà, mặt mẹ tôi tái mét. Lúc ông nói xong, bà quay sang ôm chầm tôi. Mẹ ôm tôi rất lâu và rất chặt, thắm thiết hơn mọi cái ôm 14 năm bà từng trao cho tôi, bất giác tôi dang hai cánh tay siết eo bà.

Cha giằng tôi ra khỏi bà, túm lấy cổ tay, dắt tôi vào căn nhà. Mẹ rơm rớm nước mắt còn tôi ngoái nhìn bà, mặt ngơ ngác chẳng rõ chuyện gì đang, hay sắp xảy ra.

  • Đây là con gái tôi, Sonya Ravenir. Nhờ anh !

Xong ông quay sang tôi, bảo :

  • Sonya, đây là ngài Hawkert, làm việc tại phụ sở của Bá tước. Ngài đang cần một giúp việc để giúp đỡ ngài coi sóc nội trợ, vì vợ ngài mới mất. Con hãy chia sẻ nỗi đau của ngài, chăm lo việc nhà để ngài chuyên tâm làm việc…
  • Cha, chúng ta chưa bàn gì về chuyện này cả…

Hawbert, người đàn ông mập mạp với bộ râu vểnh, má phúng, nọng ở cổ, cười tít mắt. Ông ta ngoắc tay, ra hiệu cho tôi lại gần. Tôi nhìn cha, ông gật đầu và buông  tôi ra. Bước về phía trước vài bước, tôi đột ngột phóng về phía ngược lại, hướng khỏi cửa. Tôi quá nhỏ con, chậm chạp. Cha nhanh chóng tóm lấy gáy tôi. Ông thầm thì :

  • Sonya, mẹ con không thể làm việc ở xưởng phân loại đá. Mẹ phải về để chăm sóc ông bà ốm, và sức khoẻ của chính bà ấy…
  • Con…không…muốn. Buông ra !

Tôi giãy giụa, đấm đá vào không khí, gào la bằng tất cả sức lực.

Cha tôi ôm lấy tôi, bế thốc lên, giọng ồm khẩn khoản.

  • Sonya, chúng ta cũng không muốn thế. Nhưng chúng ta cần tiền, và người đàn ông này có thể cho chúng ta khoản ấy…
  • Cha… đang cố…bán con đi…
  • Không phải! Con làm công ăn lương, giúp việc nhà cho họ để lấy tiền, có gì là sai trái!
  • Con mới 14…
  • Ở cái xứ này, ai 14 tuổi cũng phải làm lụng. Chúng ta chẳng thể nuôi con mãi. Con cũng biết chúng ta nghèo kiết xác, con còn định…đeo bám đến lúc nào! Hãy thông cảm! Sonya, chúng ta xin lỗi…

Từng từ một đấm thủng tai tôi, dội “bình bịch” vào đầu. Cha thả tôi xuống mà tôi đứng chẳng vững. Người đàn ông tên Hawkert vuốt nhẹ mái tóc tôi đã được mẹ chải mượt ban sáng, mỉm cười, tỏ vẻ phúc hậu:

  • Ngoan nào Sonya! Ta hứa sẽ yêu thương cháu như người cha vĩ đại này. Cháu còn chờ gì mà không đền đáp ông ấy. Đừng làm oằn vai người đàn ông khốn khó mà cháu gọi là cha! Hãy là một cô bé dũng cảm, nhé!

Tôi nghi ngờ mọi lời ông ta nói. Tôi muốn gặp mẹ, và cùng bà quay về ngôi nhà lụp xụp bãi hoang. Tôi không thông cảm  cho ai cả. Tôi chỉ muốn sống với gia đình mình.

  • Bảo trọng và chăm chỉ!

Người đàn ông to lớn, da ngăm đen, mặt khắc khổ, đội chiếc nón bồi lên, bước đi ra khỏi cửa, và mất hút. Tôi đã đếm, tổng cộng là 15 sải chân, không thiếu không dư.

Sonya đã bị tống khỏi nhà như thế.

Tôi vùng chạy, nhưng Hawkert siết chặt cánh tay tôi, hằn lên dấu ngón tay mập ú.

  • Buông tôi ra!
  • Cha mẹ mày đã nhận tiền công 2 quý. Mày có sống chết cũng phải làm đủ cho tao đủ mấy kì. Bây giờ thì đi làm bữa trưa, mau lên!

Cổ họng tôi bỏng rát, mắt cay xè. Sonya sẽ không khóc.

Tôi không quan tâm. Tôi không phải một cô tiểu thư đài các. Dù ốm yếu vẫn là phận chân lấm tay bùn, tôi chẳng ngại phải làm việc. Tôi chỉ bất ngờ vì mình lại quá đỗi nhẹ cân đến như thế, trong gia đình Ravenir.

Nếu như thế, tôi sẽ làm xong 6 tháng, rồi trở về, khi họ giải quyết xong túng thiếu.

  • Tao bảo mày đi làm bữa trưa, đồ khốn! Mày nấu cái gì cho người ăn được đấy, không thì biết tay tao!

Quát nạt xong, hắn lăn ra bộ salon êm ái, vặn đĩa nhạc nghe mấy bản cực kì thối tai.

Tôi dò dẫm vào bếp. Bên trong tối hù. Tôi tìm nến và thấy chúng ngay lập tức. Tìm mấy món đồ nho nhỏ là mánh khoé của tôi. Một cái búng tay và bọn nến cháy leo lét, đủ để trông mọi vật tầm bán kính 5 feet.

  • Và nhớ, không được ăn cắp thứ gì! Tao sẽ chặt tay mày đấy!

Trộm đồ cũng chỉ tăng thêm món nợ với gã mập đáng ghét. Không đời nào tôi làm trò ngu xuẩn hại thân đó!

Nồi niêu láng cóong. Tất cả vật dụng bếp đều tốt, tiện lợi hơn mớ xoong chảo như vũ khí ở nhà. Và quả thật, nước đã chảy từ vòi (sau một hồi tôi vặn, cào cấu, kéo, giật, đấm đá cái khoá vòi).

Tôi bắt đầu đánh trứng, thái hành tây, xắt cà chua mà không định hình tôi sắp nấu món gì. Một ít rượu mạnh, thịt bê, pate gan… Cả đời tôi chưa từng nếm qua, làm cách nào tôi đối phó với chúng?

Tôi đánh lửa, nấu theo bản năng của mình.

Hawkert ra chiều là tên háo ăn. Gã tọng mọi thứ vào dạ dày không đáy kêu ồn ột rõ mồn một, chẳng chừa lại chút nào. Tôi thở phào. Dọn rửa sạch gọn, tôi làm thêm một phần nhỏ cho chính mình, khi Hawkert ra ngoài, bấm khoá nghe lạnh gai sống.

Tôi bị nhốt.

Cảm giác chẳng dễ chịu gì. Tôi biết, la hét, kêu cứu không thể giúp. Đơn giản là chấp nhận, và suy nghĩ cách thoát khỏi căn nhà chết tiệt sớm nhất có thể.

Thêm một câu hỏi vào danh sách : Tại sao Sonya được sống ở một nơi đàng hoàng, sạch sẽ, cao cấp hơn, nhưng lại muốn thoát khỏi đó càng nhanh càng tốt.

Buổi chiều, tôi lên gác và bắt đầu dọn dẹp. Sàn tầng trên được lót ván gỗ sơn vân bắt mắt, có điều, vương vãi đầy quần áo, rác, vật dụng tạp nham mà tôi chưa từng thấy, cũng chẳng hiểu được tạo ra nhằm mục đích gì. Phía trước một gian trưng bày vật sưu tầm là rượu, hai căn phòng bị khoá nằm hai bên hành lang. Tốt ! Tôi không hề thích dọn dẹp chúng hôm nay. Tôi gom quần áo riêng, nhặt rác, quay cuồng với mớ hỗn độn. Sau khi sàn gỗ trống được 2 phần, tôi lăn ngủ chẳng hay.

Không hành lý, không tiễn biệt, không báo trước. Làm thế nào họ tống tôi đi như thế ? Nước mắt chảy dài trong vô thức.

Tôi bỗng nghe tiếng động, nhưng tôi mệt mỏi cả thể chất lẫn tinh thần, hai mí mắt trĩu nặng chẳng chịu nhấc lên. Tiếng động mỗi lúc mỗi gần, nghe như trâu rừng phi.

Bóng người phì nộn áng tầm nhìn, đôi mắt nấp sau hai khe hẹp chòng chọc xoáy vào tôi. Tôi choàng tỉnh giấc, thấy gã cười nham nhở tiến lại gần hơn. Tôi vội lùi xa, chợt nhận ra mình đã ngủ quá say, không hề hay Hawkert về, và chết người hơn, chiếc váy trắng tốc cao lộ đến nửa đùi. Chẳng biết ý đồ của gã, tôi vẫn linh cảm chuyện tồi tệ sắp sửa ập đến.

Tôi bật dậy tìm đường thoát, khổ nỗi, lối ra duy nhất đã bị chặn. Nháng thấy phía cuối hành lang có cửa sổ, tôi vội vàng lao đến. Run như cầy sấy, sự sợ hãi trào dâng, tôi không biết điều tiếp theo phải làm. « Bình tĩnh, bình tĩnh Sonya », tôi lầm bầm, loay hoay mở cửa sổ. Chấn song chằng chịt buộc tôi phải xử lý những khoá chốt phức tạp để thoát thân. Tôi gạt cần về bên trái, nhưng thanh sắt chẳng nhúc nhích, có lẽ vì quá lâu chưa được tra dầu. Tôi thở dốc. Thanh chắn đầu tiên bung ra, tuy nhiên vẫn còn một chắn nữa trước khi cánh cửa có thể đẩy, hoặc kéo. Đột ngột, tôi bị giật ngược rất mạnh. Đầu tôi đập xuống sàn gỗ, đau điếng. Tôi nhất thời chẳng thể suy nghĩ, cử động. Khi mắt tôi bớt mờ sao, tất cả tôi trông thấy là gương mặt to tướng kinh tởm với bộ ria mép vểnh, hàm răng cồ cộ vàng khè. Thất thần, tôi hét toáng lên. Gã dùng bàn tay tựa bàn nện, ấn xuống miêng tôi thật chặt. Âm thanh chỉ còn vài tiếng ư ử đọng ở cổ. Tôi thấy cực khiếp đảm. Mắt tôi nhoè đi, toàn bộ cơ thể cứng đờ. Nghe hơi thở phì phò nồng nặc mùi rượu bên má, tôi nghĩ trái tim mình sắp ngưng đập.

Tôi muốn thoát khỏi nơi này, dẫu điều đó có nghĩa, hoặc là tôi, hoặc là hắn, phải bỏ mạng. Máu nóng dồn lên não rồi toả đi khắp người, đánh thức bản ngã hiếu sát trong tôi. Tôi sẽ không để mình bị làm nhục, bị dẫm đạp, bị vứt bỏ như một con chuột cống. Mười ngón tay tôi mò tìm bất cứ vật gì có thể dùng thay vũ khí. Vô ích ! Gốc động mạch cánh tay bị chặn, phần ngọn chi trên tê rần, bất tuân mệnh lệnh. Tôi thật sự tuyệt vọng. Tâm trí tôi gào la dữ dội.

Tôi sẽ giết hắn.

Tôi sẽ đập vỡ ngôi nhà của hắn.

Tôi sẽ huỷ hoại thể xác và linh hồn hắn.

Tôi yêu cầu lửa đốt trụi, nhờ nước nhấn chìm, van nài gió thổi tung, cầu xin đất chôn vùi, tất cả mọi thứ thuộc về hắn.

Đáp lời tôi là tiếng động vang trời. Ngọn nến ngã vào bồn chứa khí đốt, nổ tung, khiến đường nước rò rỉ, phun hàng trăm tia nước và phá toang thành ống. Nước ngập khắp tầng trệt, lửa bén trên cao bốc khói ngùn ngụt. Sàn gỗ bắt lửa, rục rịch chuyển mình, sau đó đổ sập, nát vụn. Gã loạng choạng đứng dậy, lập tức sụt chân xuống. Tôi vẫn nằm trên một mảnh ván, trượt theo chiều dài của nó, đáp vào bộ salon mềm. Không phí phạm một giây một phút, tôi vùng dậy, đạp cửa lớn gã chưa khoá, chạy đến hụt hơi mà chẳng ngoảnh đầu chiêm ngưỡng « tác phẩm » đổ nát tôi đã gây ra, bỏ mặc cả tràng tiếng la ó, chửi rủa, cầu cứu, cùng những ánh nhìn hiếu kì, tò mò, vô tâm. Trong đầu tôi, lửa hừng hực cháy, nước ồ ạt chảy, gió rú, mặt đất lún dưới mỗi bước chân tôi.

Tôi không nhớ đã chạy điên cuồng như thế bao lâu. Khi tôi kiệt sức ngã lăn quay, cảnh vật chung quanh hiện lên, xa lạ, tối tăm, ác độc. Đêm không trăng, không sao, chỉ có ùn ùn mây giăng đỏ thẫm. Nhà nhà đều đóng cửa. Ánh sáng mong manh hắt ra từ các khung kính vừa đủ để tôi lần mò đường đi. Mặt đường nóng, khô ran. Bàn chân tôi từ rát, đau, đến phồng dộp, rồi chẳng còn cảm giác. Có thể không ăn thêm, nhưng tôi cần chỗ nghỉ, an toàn, yên tâm. Tim tôi nãy giờ cứ đập như đánh trống, mạch máu hai bên thái dương phừng phực. Nếu bây giờ tôi bị tóm, hoặc gặp thêm những gã biến thái, tôi không nghĩ tôi còn sức để phá cả dãy phố, hoặc chống trả lại. Chắc chắn đó sẽ là kết thúc cay đắng của tôi. Tôi đi không ngừng bước, không định hướng. Vận rủi đã đưa tôi vào thành Weinver, gặp Hawkert ; vận may cứu tôi khỏi hắn. Tôi chẳng biết gì hơn, ngoài trông chờ vào kẻ dẫn đường cho số phận.

Hơn một dặm đi bộ, tôi bất chợt đến được một thánh điện sừng sững, nằm riêng ở mảnh đất rộng lớn. Trời tuy tối, tôi vẫn có thể nói toà điện này cao, to, đẹp đẽ. Gia đình tôi chưa bao giờ đến đó, ý tôi là, bất cứ thánh điện nào. Cha mẹ tôi thi thoảng cầu nguyện, gọi tên các vị thần, dù vậy, họ không nói với tôi thêm. Tôi nghe ngóng ở chợ, khi họ kể giai thoại, bảo rằng vị thần giàu lòng bác ái sẽ chở che cho tất cả tông đồ. Vì vậy, tôi, đứa trẻ bế tắc, sẽ cầu xin lòng thương hại của những con người phục vụ thần thánh.

Tôi bắt đầu lay hàng rào, ra sức gọi. Ánh sáng và tiếng nhạc phát ra từ phía sau cổng điện thờ làm tôi khấp khởi. Nhưng gào thảm thiết đến khản cổ, ánh sáng cùng âm thanh êm dịu ấy không mảy may lay chuyển.

  • Chị là người mới đến phải không ?

Đứa con trai nhỏ đi theo một đoàn tạp kĩ hành khất, ăn mặc hệt đám trẻ nơi ổ chuột lên tiếng. Tôi gật đầu.

  • Điện này thờ Vich, vị thần của sung túc và giàu sang. Họ sẽ không bao giờ mở cửa cho những kẻ tồi tàn mạt rệp.

Nói rồi, nó quay gót, dáng đi lững thững và gương mặt ráo hoảnh.

Sonya, bàng hoàng hãy để sau ! Hãy cố lúc lắc trí não ! Hãy bắt lấy thời cơ chỉ đến một lần !

  • Em trai ! Chị muốn thương lượng. Em hãy để lại cho chị bộ quần áo của em, và chị sẽ đổi cho em bộ váy này.

Đứa nhóc xăm soi bộ váy trắng bị rách và bẩn vài chỗ, tuy vậy, vẫn khá hơn chiếc áo cổ tròn vải đay nó đang mặc. Nó gật đầu.

  • Tốt !

Tống khứ bộ váy xinh đẹp nhưng phiền phức, tôi tròng đầu vào « bộ cánh » hôi rinh rích, lại đem nhem nhẻm. Ống quần giật cao đến nửa cẳng chân. Tôi không để tâm lắm vì cũng không chật chội là bao.

  • Em trai, chị muốn mượn dao.

Cậu bé lắc đầu nguầy nguậy.

  • Vậy thì, bất cứ thứ gì có thể cắt được.

Nó chìa một mẩu sắt rỉ mỏng bọc trong cuộn giẻ rách. Tôi cẩn thận đón lấy, rã mớ vải xung quanh. Chiếc dao này chẳng bén lắm, nên tôi mất hơi nhiều thời gian để cắt phéng đi mới đuôi tóc hạt dẻ rễ tre.

  • Trông chị giống đàn ông chưa ?

Thằng nhóc lắc đầu.

  • Thế còn giống con gái không ?

Nó cũng lắc đầu. Tôi thở phào.

  • Cảm ơn !

Nó ôm bộ váy trắng, nhét mẩu sắt vào chiếc túi tả tơi, nhìn tôi như thể tôi không có não, rồi chạy theo đoàn hành khất.

Trong bóng tối, họ sẽ nhầm tôi với con trai. Tôi nép sát người vào cổng điện, hy vọng chốn linh thiêng, con người không làm càn. Bộ quần áo hôi nứt mũi, nhưng nếu nó mua tạm cho tôi vài khắc bình yên bằng cách xua đuổi bọn người kia, tôi rất vui lòng đổi lấy nó.

Gió nổi lên, quất ràn rạt vào người tôi. Da mặt tôi rát cháy, cảm giác cơ thể tôi sắp bị thổi sấy đến khô quắt. Tôi không dám ngủ. Tôi biết quá ít về nơi này để lơi một giây cảnh giác. Ngồi co ro, tôi nhớ cái giường xệ Rockey đóng da diết. Tôi tự hỏi liệu còn cơ hội để tôi trở về mái nhà ven khu mỏ. Cha mẹ, khoản nợ, tôi không có hướng giải quyết. Tôi chẳng muốn nghĩ tới nữa. Cuộn len rối trong đầu tôi vô phương tháo gỡ. Việc tôi nằm ở đây, một mình, mệt mỏi liệu có ổn ; ngày mai sẽ như thế nào,…tôi không buồn đặt nghi vấn.

Tôi không giận cha mẹ, nhưng tôi không thể đồng tình hay thông cảm. Lúc này đây, tôi vừa mong gặp họ, vừa chẳng ưa điều đó.

Tôi ghét phải sắp xếp cảm xúc.

Tôi cảm thấy mình trở thành viên gạch lát đường sần sùi.

Tôi thích ý nghĩ đó.

Nếu tôi còn sống, nghĩa là định mệnh vẫn dành cho tôi một công việc chán ngắt nào đó.

Nó giải thích vì sao tôi đặc biệt.

Trước khi rơi vào giấc ngủ, tôi thì thầm : « Chúc may mắn, Sonya ! »

 

0

Related Posts

Leave a Reply

Site Menu